Bài mới trên BÁO TỔ QUỐC

Trần Đĩnh – Đèn Cù

VĂN TUYỂN

1

Trần Đĩnh là người chấp bút Tiểu sử chính thức đầu tiên của Hồ Chí Minh, năm 1960; và chấp bút các cuốn tự truyện, hồi ký cho Phạm Hùng, Lê Văn Lương… trong đó, nổi tiếng với dân Miền Bắc là cuốn “Bất Khuất” (hồi ký tù Côn Đảo của Nguyễn Đức Thuận, 1967). Trần Đĩnh cũng là dịch giả nhiều tác phẩm văn học…

Bấm vô link dưới để download bản PDF.

Đèn Cù-Trần Đĩnh

View original post

Quảng cáo/Rao vặt

17 Comments on Trần Đĩnh – Đèn Cù

  1. Báo Đức Tung Tin Mafia & cán bộ csvn cấu kết với Toà Đại Sứ csvn tại Ba Lan giết người 30,000 người Việt di cư lậu để buôn nội tạng tại Ba Lan

    Một bài báo về những truyện động trời xẩy ra tại khu dân cư người Việt Nam ở phố nghèo Warsaw Ba Lan

    Chủ Nhật vừa qua chương trình Đài truyền hình Đức có truyền phát một phóng sự về cộng động người Việt tại Ba Lan. Đây là một trong hai Đài truyền hình (quốc gia) có thể nói là đứng đắn. Phóng sự nói về sinh hoạt của cộng đồng người Việt tại Ba Lan, hầu hết là di dân từ Miền Bắc. Cách sống và cách xử sự với nhau thật kinh khủng. Những bí mật mà các nhà báo Ba Lan thuật lại thật khó mà tin rằng chúng đã xẩy ra như vậy… những chuyện động trời!

    Bài báo cũng tố cáo nhân viên Tòa Đại Sứ Cộng Sản Việt Nam tại Ba Lan có nhúng tay vào những tệ đoan và hành vi tội phạm được nêu ra… . Vì đồng tiền và lợi nhuận mà mất hết trái tim. Đây là bài tóm lượt về phóng sự. LCH đã chuyển dịch qua tiếng Việt để chúng ta cùng đọc và suy nghĩ:
    • Sắc thái Việt trong lòng Warsaw – Ba Lan
    Chúng tôi đang đứng tại Praga, một khu phố nghèo của Warsaw và nhìn lên những căn nhà chọc trời qua màng sương tháng Mười. Nơi đây, với vô số cần cẩu xây dựng, trong vòng vài tuần nữa sẽ mọc lên một sân đá banh cho giải bóng đá Âu châu sắp đến. Ngay cạnh bên, theo ngôn ngữ dân gian là khu Tiểu Việt Nam. Một khu chợ lớn bán đủ mọi thứ với giá rẻ. Thật thế, tất cả mọi thứ. Dân Việt Nam là cộng đồng ngoại quốc đông đảo duy nhất. Họ kéo đến từng bầy. Ba Lan là đất hứa, bởi số đông là đồng bào Việt Nam đã từng sát cánh cùng với Phong trào Công đoàn Đoàn kết chống cộng. Đến hôm nay họ vẫn còn ấp ủ thực hiện được giấc mơ ấy trên xứ sở Cộng hòa Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam của họ. Không ai biết được con số chính xác, nhưng có ít nhất 30.000 dân tị nạn người Việt trên Ba Lan, phần bất hợp pháp. Chúng tôi biết được cặn kẽ hơn từ một thành viên tranh đấu cho nhân quyền người Ba Lan thuộc hiệp hội “Tiếng nói tự do”, hiện đang công tác giúp đỡ số cư dân này.

    Robert Krzyszto thuộc hiệp hội “Tiếng nói tự do” kể rằng:
    “Đấy là một cái bẫy: Cuộc hành trình đến Ba Lan được băng nhóm Mafia Việt Nam tổ chức. Dân tị nạn được đưa đến Moscow, chặng này không khó… Ở đây họ bị gom thu giấy tờ với chiêu bài, phải đi đóng thị thực nhập nội Ba Lan vào thông hành. Và tiếp theo họ được cho biết là có rắc rối, phải trả thêm 10.000 đến 15.000 $US Dollars. Một số tiền họ không thể có được, Thông hành bị giữ – họ đành phải chịu nợ để được đi tiếp đến Ba Lan. Một số nợ quá lớn và để trả nổi họ phải làm suốt đời. Dẫu họ có trúng số độc đắc đi chăng nữa, đám Mafia đòi nợ vẫn sẽ hàng tháng đến nhà gõ cửa.
    Thật rất khó khăn mới thâu được những hình ảnh khu chợ Việt Nam vào ống kính. Ai ai cũng e ngại chúng tôi, phần đông thấy máy quay phim ai nấy đều bỏ chạy. Nhiều người sống ở đây đã nhiều năm vẫn không nói được một chữ Ba Lan. Chúng tôi làm quen với Ngân. Người phụ nữ 45 tuổi này hành nghề với một bếp ăn lưu động. Một ngày mới của cô ta bắt đầu từ 1 giờ đêm.
    “Cách đây 9 năm tôi phải chạy trốn, vì sợ trả thù. Tôi không muốn kể nhiều hơn. Chồng và con còn ở lại Việt Nam. Tôi nhớ chồng con lắm nhưng phải làm việc bù đầu 17 tiếng một ngày, 7 ngày một tuần, tôi không còn thì giờ nghĩ đến nữa. Tôi kiếm không được nhiều, nhưng nếu tiết kiệm tôi có thể dư tiền để gọi điện mỗi tuần một lần về nhà. Giờ thì tôi phải đi bán hàng…”

    Chúng tôi tháp tùng theo Ngân, nhưng chỉ vài phút sau phải bỏ ngang không quay tiếp. Bởi Ngân không bán được gì cả khi có mặt chúng tôi bên cạnh. Cô ta giận dỗi mắng:

    “Thôi cút đi, chỉ làm cản trở chuyện bán buôn”.

    Sau đó chúng tôi mới nắm hiểu vì sao dân tị nạn ở đây lo sợ và Tòa Đại sứ CS Việt Nam tại Warsaw khoác một vai trò tai tiếng bất hảo như thế nào. Chiều đến chúng tôi hẹn gặp tại ven ranh thành phố với một cảnh sát tình báo trách nhiệm điều tra trong khu vực cộng đồng người Việt.
    “Họ sợ bọn Mafia. Đám doanh thương giầu có đem rất nhiều tiền từ Việt Nam sang đây để rửa. Họ mua hãng xưởng và đầu tư tại Ba Lan. Bọn họ có đường dây rất chặt chẽ với chính quyền Hà Nội và với Tòa Đại sứ Việt Nam tại Warsaw. Một băng nhóm tội phạm có tổ chức, một hệ thống Mafia.”

    Và với Mafia thì không đùa được. Đám tị nạn bất hợp pháp phải nộp tiền cho chủ, và tụi ấy có phương pháp riêng của chúng.
    “Đám Việt không bao giờ có văn bản hợp đồng. Lời nói là đủ. Khi một kẻ nào đó không trả tiền, sẽ bị bắt cóc và tra trấn cho đến khi phải xì tiền ra”.

    Một nhà báo Ba Lan đã mất hàng năm trường điều tra quyết phá vỡ bức tường im lặng này. Báo chí Ba Lan vừa rồi đã in bài tường thuật về những sự việc xảy ra trong chợ Việt Nam.

    Ton Leszek Szymowski, một nhà báo viết:
    “Mỗi một con buôn trong chợ đều phải nộp thuế, đấy là nguyên tắc. Không cần biết anh buôn gì, giầy dép hoặc áo quần hoặc có một cửa hàng ăn uống, đều phải nộp thuế. Từ 100 đến 150 $ Dollars một tháng. Nếu không bọn hắn sẽ đốt cửa hàng anh. Chịu chi anh sẽ được bảo đảm an ninh, đối với mọi băng đảng”.

    Trong bếp một tiệm ăn, một dân tị nạn phi pháp rút hết can đảm kể cho chúng tôi nghe một cuộc vượt trốn liều lĩnh. Cuộc hành trình của Nguyen từ Việt Nam đến Warsaw kéo dài hàng tháng trường.
    “Thoạt tiên tôi muốn đi qua đường Moscow. Nhưng họ đề nghị tôi nên vượt rừng qua Trung hoa. Tôi tin nghe theo, sau đó phải ngồi mãi trên tàu lửa và rồi nằm trong một thùng carton trên một chiếc xe tải. Xe chạy đến Kiew/ Ukraine. Họ đưa chúng tôi đến biên giới Ba Lan – và khi không người canh giữ, xe vượt biên giới và chở chúng tôi đến chợ Việt Nam, tại đấy họ tống tôi ra khỏi xe và thả tôi chơ vơ giữa đường”.

    Trả lời câu chúng tôi hỏi, người Việt sinh sống ở đâu. Anh ta trả lời đơn giản:
    “Chỉ cần một người mướn được đâu đó trong những chung cư cao ốc một căn hộ, sẽ kéo thêm mười người nữa vào. Mười một người sinh sống trên 12 thước vuông”.
    “Tôi không hiện hữu, tôi ở ngoài vòng pháp luật. Công an chìm Việt Nam vẫn còn theo dõi tôi đến tận Ba Lan. Họ vẫn hăm dọa khủng bố tôi. Vài ba ngày một lần họ ghé qua đây, hăm tôi không được hoạt động chống đối chính quyền. Và để dằn mặt họ quần tôi mỗi tháng một lần”.

    Một số ít dân tị nạn đến theo đường bay từ Moscow, với giấy tờ giả. Một ngày có hai chuyến Aeroflot đáp xuống Warsaw.
    Những giấy thông hành quá giá trị đến mức dân tị nạn Việt Nam luôn luôn bất tử. Tại những nghĩa trang Ba Lan không hề có một nấm mồ của người Việt. Và điều này kiến Cảnh sát Ba Lan bứt tai vò đầu bao năm nay.

    Dariusz Loranty, Cảnh sát Warsaw cho biết:
    Dân Việt Nam sống mãi (nói không ai tin), nhưng thực tế chưa hề có đám ma chay hay tang lễ nào cà! Trước đây vài năm, chúng tôi, Cảnh sát Warsaw, thật tình có phỏng đoán, đám người này họ ăn thịt đồng loại chăng? (theo như tường thuật thì chưa có ai chết được chôn bao giờ). Ai rồi cũng phải chết và phải được an táng.
    Một hôm chúng tôi kiếm được một xác chết bị quẳng đâu đấy vào trong rừng ở ven ranh Warsaw, đám Mafia thủ tiêu xác chết và sử dụng tiếp giấy tờ. Rồi lại thêm một kẻ tị nạn nữa sẽ đến từ Việt Nam, mang tên họ của người đã chết mà không ai kiểm soát được. Và với chúng tôi thì người Việt nào cũng giống nhau, không phân biệt được.

    Năm vừa qua chỉ có 800 người nộp đơn xin tị nạn chính trị tại Ba Lan, tất cả đều bị từ chối. Người Việt sống và bị đối xử phi nhân cách và một cách dã man. Nhưng vào thời điểm cuối cuộc tường trình chúng tôi nghe được một tin đồn kinh khủng.

    Robert Krzyszto, hiệp hội “Tiếng nói tự do” kể rằng:
    Có một sự việc liên quan đến dân Việt ở đây, không có chứng cớ, nhưng có thật. Tôi muốn nói về việc buôn bán bộ phận thân thể con người. Bọn Mafia đem người qua Ba Lan và sử dụng họ như một kho lạnh biết đi. Những người trẻ và khỏe mạnh. Họ được phép đi lại một mình nhưng bị kiểm soát rất chặt chẽ. Những người này rồi sẽ bị giết và lấy đi những bộ phận thân thể… Mọi dấu tích sẽ được cẩn thận xóa sạch. Những con người đó sẽ biến mất, chỉ còn lại tin đồn.

    Chúng tôi không biết đã có bao nhiêu, nhưng nguồn tin này tuyệt đối khá tin cậy.

    Đối với số 30.000 người Việt cư ngụ bất hợp pháp tại Ba Lan vùng đất hứa của họ phần lớn thật ra là một địa ngục trần gian. Bọn Mafia Việt Nam hành xử nhóm người này tùy thích. Ngay giữa lòng châu Âu.

    Ulrich Adrian
    LCH chuyển ngữ

    Nguồn: http://nuocvietphuongnamu.blogspot.com/2015/04/nhung-truyen-ong-troi-tai-khu-nguoi.html#more

    Like

  2. Việt Nam trong mắt Lý Quang Diệu
    Cao Huy Huân

    Trong thế kỷ 21, có những điều mà trong thế kỷ trước không ai nghĩ rằng sẽ có nhiều thay đổi đến vậy. Giờ phút này, một công dân trẻ như tôi ngồi đây, viết những dòng chữ này thì đất nước Việt Nam, nơi tôi đang sống, làm tôi thất vọng về trình độ phát triển. Sáng nay tôi được đọc một bản nói rằng năng suất lao động của người Việt chỉ bằng 1/5 của người Malaysia, 2/5 của người Thái Lan và tệ hơn, chỉ bằng 1/15 của người Singapore.
    Singapore, một đất nước nhỏ bé về diện tích, đang ám ảnh những công dân Việt Nam ở thế kỷ 21 này. Những khu dân cư, những trung tâm thương mại, những thành phố mới được xây dựng… tất cả đều được “ăn theo” mô hình và kỹ thuật của Singapore. Nhưng tại sao lại là Singapore? Chẳng phải những mô hình, những kỹ thuật đó Singapore cũng đã học tập từ những quốc gia phương Tây tiên tiến hay sao? Tại sao từ một làng chài kém phát triển trên bán đảo Malay, Singapore đã phát triển thành một quốc gia đứng thứ 2 ở châu Á về mức sống? Câu trả lời có thể dẫn đến nhiều nguyên nhân, nhưng căn nguyên nhất vẫn là yếu tố con người.
    Lý Quang Diệu, nhân vật đã thay đổi và biến làng chài nhỏ bị dịch bệnh triền miên trở thành đất nước có nền kinh tế phát triển hàng đầu của châu Á. Singapore là nơi mà những kiến trúc hiện đại cùng chung sống với thiên nhiên chan hòa, nơi cả thế giới ngưỡng mộ về chuẩn mực môi trường xanh sạch, nơi có làn sóng di dân ngược từ châu Âu sang châu Á. Nhưng trong những ngày đầu lập nước vào thập niên 60 thế kỉ trước, Lý Quang Diệu, thủ tướng đầu tiên của Singapore, đã từng nói “hy vọng là một lúc nào đó Singapore sẽ phát triển giống như Sài Gòn”. Thật đáng kinh ngạc khi có một thời chính nhà lãnh đạo của Singapore đã mơ tưởng và bị ám ảnh về sự phát triển của Sài Gòn.
    Còn bây giờ thì sao? Sau hơn 30 năm, chính người Việt Nam đang thèm thuồng được như Singapore ngày nay. Sau khi Mỹ rút khỏi miền nam Việt Nam, chính Lý Quang Diệu, người từng có tuổi thơ sinh sống tại Biên Hòa, đã nắm ngay lấy cơ hội đó để biến thời cuộc thành lợi ích cho Singapore. Sau năm 1975, tất nhiên Mỹ và phương Tây đóng cửa với Việt Nam, mọi giao thương với châu Á đều dành cho đồng minh của họ. Singapore được Lý Quang Diệu phát triển thành cảng trung chuyển đường biển lớn nhất tại khu vực. Và đúng theo quy luật về thương mại – kinh tế, Singapore được thừa hưởng những đặc quyền của một cảng biển lớn, một cửa ngõ hướng vào Đông Nam Á và cả châu Á.

    Lý Quang Diệu cho rằng, cuộc chiến tranh giữa Việt Nam và Mỹ là tiền đề quan trọng cho sự phát triển của những nước phi Cộng sản ở châu Á. Rõ ràng là trước khi tuyên bố như thế, Lý Quang Diệu đã nhanh chóng nắm lấy cái “tiền đề quan trọng” đó để biến Singapore từ một quốc gia non trẻ kém phát triển thành một đất nước giàu có. Lý Quang Diệu nhận định rằng, sau khi Mỹ rút khỏi miền nam Việt Nam, lập tức những đồng minh của Mỹ ở châu Á tranh thủ thời cơ để trở thành 4 con rồng châu Á, và sau này có thêm sự xuất hiện của 4 con hổ Đông Nam Á. Bốn con rồng được nói đến là Singapore, Nam Triều Tiên, Hong Kong và Đài Loan. Bốn con hổ là Malaysia, Thái Lan, Philippines và Indonesia. Vậy Việt Nam đã biến đi đâu trong bản đồ khu vực? Và lý do gì Việt Nam lại tụt hậu một cách nhanh chóng như vậy?

    Lý Quang Diệu từng nói rằng lẽ ra vị trí số một ở châu Á phải là của Việt Nam. Theo ông, vị trí địa lý chiến lược, tài nguyên thiên nhiên phong phú là hai yếu tố hàng đầu có thể đưa Việt Nam trở thành người khổng lồ ở châu Á. Ông cho rằng, đất nước Singapore nhỏ bé với diện tích và dân số chỉ xấp xỉ Sài Gòn, hoàn toàn không có tài nguyên thiên nhiên, chỉ có một ít đất để xây dựng và ngay cả nước sinh hoạt cũng phải nhập từ nước bạn Malaysia, nhưng Singapore đã phát triển trở thành đất nước có GDP cao thứ hai ở châu Á chỉ sau Nhật Bản. Lại nói đến Nhật Bản, Lý Quang Diệu cũng chỉ ra những bất lợi của quốc gia này, đó là một quốc gia bại trận sau Chiến tranh thế giới thứ hai, không giàu tài nguyên, quanh năm động đất và sóng thần, nhưng chỉ vài năm sau khi chiến tranh kết thúc, Nhật Bản là người khổng lồ châu Á. Lý Quang Diệu cho rằng, sự thành công của một quốc gia bao gồm ba yếu tố : điều kiện tự nhiên (vị trí chiến lược và tài nguyên thiên nhiên), con người và thời cơ. Trong đó, để có yếu tố thời cơ, thì yếu tố con người phải vững và nhanh nhạy. Lý Quang Diệu đánh giá rất cao điều kiện tự nhiên của Việt Nam, nhưng ông không đánh giá cao yếu tố con người trong sự phát triển chậm chạp này. Tôi hay đọc các bài viết trong nước ca ngợi sự thông minh, tính cần cù, chịu khó của người Việt. Xin lỗi, tôi không thấy được sự thông minh và cần cù đó. Xin nhắc lại, năng suất làm việc của người Việt Nam chỉ bằng 1/15 của người Singapore, tức là một người Singapore làm việc bằng 15 người Việt Nam. Dân số Singapore là 5 triệu dân, dân số Việt Nam là hơn 90 triệu dân. Vậy tức là năng suất làm việc của 5 triệu dân Singapore chỉ mới bằng 75 triệu dân Việt Nam, thế nhưng GDP của Singapore là gần 300 tỷ USD, trong khi GDP của Việt Nam là khoảng 170 tỷ USD. Đó chỉ là một so sánh chung chung, chưa tính đến dân số ở độ tuổi lao động của hai quốc gia. Một khi yếu tố con người đã yếu kém như thế thì yếu tố cơ hội cũng sẽ chẳng có nhiều.

    Lý Quang Diệu tiếc vì Việt Nam không biết trọng dụng người tài, ông nói rằng người tài ở Việt Nam đã định cư ở nước ngoài hết rồi. Tôi đồng tình với quan điểm này của Lý Quang Diệu. Tôi thường nghe nói về cậu bé thần đồng Đỗ Nhật Nam và cũng thường xem các video thi hùng biện tiếng Anh của em. Báo chí và truyền thông Việt Nam cũng hay đề cập đến em, nhưng tuyệt nhiên không thấy có một động thái nào của chính phủ Việt Nam dành cho Đỗ Nhật Nam. Phải chăng đối với chính phủ Việt Nam, cậu bé ấy không phải là nhân tài cần đầu tư và phát triển? Chưa kể là trong một lần phát biểu về truyện tranh, cậu bé ấy đã bị những người lớn Việt Nam công kích, chỉ vì em không thích đọc truyện tranh mà chỉ thích đọc sách khoa học. Thật trớ trêu. Đỗ Nhật Nam chỉ là một trường hợp thần đồng được báo chí ưu ái, nhưng cũng bị chính phủ thờ ơ. Vậy còn những thần đồng thầm lặng khác ở cái đất nước hơn 90 triệu dân này thì sẽ nhận được hỗ trợ gì từ chính phủ? Trong mọi sự phát triển, yếu tố con người luôn tối quan trọng. Thật đáng tiếc.

    Nói thế nào đi chăng nữa, Lý Quang Diệu cũng chỉ là người ngoài, không phải người Việt Nam. Thế nhưng những nhận định khách quan của ông cũng đáng để suy ngẫm về sự phát triển của một quốc gia nhiều thuận lợi như Việt Nam. Tôi thường thấy Việt Nam rất tự hào về lực lượng lao động trẻ với giá nhân công rẻ của mình. Tôi cảm thấy đó là một điều đáng xấu hổ. Giá nhân công rẻ chẳng qua là do trình độ, tay nghề kém nên chẳng thể đòi hòi được trả công cao. Gần đây, quốc gia láng giềng với GDP thấp hơn Việt Nam là Campuchia cũng đã tự chế tạo được xe hơi. Ngược lại, khi hãng điện tử Samsung đưa ra danh sách những mặt hàng có thể đặt gia công với các doanh nghiệp Việt Nam thì mới vỡ lẽ là Việt Nam chưa thể sản xuất nổi cái sạc pin, usb và ngay cả vỏ nhựa cho điện thoại di động. Tất nhiên, Việt Nam đã đánh mất cơ hội gia công cho hãng này. Việt Nam còn sẽ đánh mất nhiều cơ hội như thế cả về quy mô và số lượng nếu cứ tiếp tục tự hào với những cái thuộc về quá khứ và không nhận thức được một cách thấu đáo và nghiêm túc rằng mình đang ở đâu trên bản đồ khu vực và thế giới. Lý Quang Diệu nói phải mất 20 năm nữa Việt Nam mới bằng Malaysia, vậy thì 20 năm nữa Malaysia sẽ phát triển ra sao và mãi mãi người Việt Nam sẽ bị ám ảnh bởi sự thua kém của mình hay sao?

    Cao Huy Huân
    Theo VOA

    Like

    • Ông Cao Huy Huân ơi,bản chất dân Việt sở dĩ bị người ngoài chê cười là họ bị oan rồi,nếu họ quá tồi thì làm sao mà họ trụ được đến ngày nay qua hơn bốn ngàn năm lịch sử,nhất là dưới sự đô hộ củ Bọn Đại Hán cả ngàn năm mà không bị đồng hoá ? Giờ đã bước vào thế kỷ 21 mà Việt Nam vẫn phải làm nhân công cho bọn Tư Bản để kiếm sống
      ! Chung quy cũng chỉ vì cái thể chế do Đảng cộng sản VN nó muốn vậy,mục đích để họ dễ cai trị người dân để mấy ông Đảng Viên chóp bu an hưởng như cựu TBT Nông Đức Mạnh,can nhà của Ngài ấy cứ như một cung điên của vua chúa vậy.Tóm lại ngày nào còn hiện hữu cái Đảng ác ôn côn đồ VC,thì dân ta còn khổ dài dài..!!

      Like

  3. Cuốn Đèn Cù – Tại sao tôi lại viết như thế đối với cuốn Đèn Cù mà Trung Tá Khoái gửi cho tôi?

    Trung Tá Đ.V.Khoái là 1 Quận Trưởng đã cảm tử chỉ huy quân đội chống lại đối phương trong mấy ngày đêm và ghi nhiều chiến công .
    […]
    Sau nhiều ngày đêm chống trả , nhưng không đầu hàng , Trung Tá Đ.V.Khoái bị bắt và được đem trình diện Tướng Đồng Sĩ Cống (hay Đồng Văn Khuyên , tôi không nhớ rõ). Vẫn hào hùng như 1 vị chỉ huy , tuy bị thua , nhưng không chịu nhục . Nhờ thái độ can đảm ấy , nên Tướng cuả đối phuơng ngưỡng mộ , cho nên không cho hành hình ngay .

    (Theo luật cuả giới Giang hồ hảo hán , cũng gọi là luật Thượng võ , nếu T.T.Khoái mà tỏ vẻ hèn hạ , quỵ luỵ , thì sẽ bị Tướng Cống cho bắn ngay để làm gương và để trả thù , cũng còn gọi là để Tế Cờ)

    Những thiệt hại mà T.T.Khoái và đồng đội gây cho đối phương không nhỏ : nhiều xe tăng bị hạ , nhiều bộ đội bị thương vong .

    Trung Tá Khoái bị đem ra ngoài Bắc và bị tù ở ngoài Bắc . Sau rất nhiều năm tù ở ngoài Bắc , T.T.Khoái mới được chuyển vào Nam .Người nhà đi thăm khuyên T.T.Khoái nên nhịn họ đi . Không có cách chi làm cho vị Sĩ Quan VNCH này thay đổi ý kiến và lòng dạ sắt son.

    Khi được đổi về Chí Hoà, T.T.Khoái và Trung Tá Vũ Đức Nghiêm (tác giả bài hát nổi tiếng: gọi người yêu dấu) đã cầm đầu cuộc nổi dậy cuả tù binh VNCH ở khám Chí Hoà trong nhiều ngày (Đài BBC có loan tin). Sau nhiều ngày, cuộc nổi loạn bị dẹp tan .
    Nhị vị Trung Tá cầm đầu cuộc nổi loạn ở khám Chí Hoà trong nhiều ngày bị biệt giam : mỗi người bị giam trong 1 thùng CONNEX giữa trời nắng chang chang , mà chỉ có 1 lỗ nhỏ để thở .Không được nói với ai ,ban ngày nhiệt độ trong thùng connex lên tới 50 ° C ,không nhìn thấy gì vì không có ánh sáng .

    Trung Tá Đ.V.Khoái bị tù tổng cộng 5000 ngày , trong đó có 500 ngày bị biệt giam trong thùng Connex.
    […]
    Trung Tá Khoái là em họ , con chú con bác đối với tôi . Không phải thế : Trung Tá Khoái đối với tôi là 1 vị Anh Hùng .

    (Cf : Trong Tâm Hồn Cao Thương , mà dịch giả là ông Hà Mai Anh, có đoạn ghi như sau :
    1 vị Đại Tá người Ý đã đứng nghiêm chào kính 1 em trai , mới bị cưa chân .
    Em này đã không quản đau đớn , cho nên tuy bị thương nhẹ ở
    chân ,em cũng cố gắng chạy lết được về tới đơn vị đầu tiên cuả Ý để báo những tin mà em đã thu lượm được .Nhưng cũng chính vì thế , mà tuy bị thương nhẹ , người ta phải cưa chân em . Em ngạc nhiên , vì tuy bé bỏng , mà lại được 1 vị sĩ quan cao cấp chào kính khi em nằm trên giường bệnh như vậy . Vị Đại Tá kính cẩn nói : Tôi chào 1 vị Anh Hùng).

    Nhận Xét :

    Vậy tại sao tôi lại viết như thế đối với cuốn Đèn Cù mà Trung Tá Khoái gửi cho tôi ?

    1 – Tôi là 1 Phật Tử .
    Nhà Phật dậy rằng :
    Lấy oán báo oán , oán ấy chập trùng ,
    Lấy đức báo oán , báo ấy tiêu tan .

    2 – Những người cầm quyền hiện tại ở VN , khi mà Saigon thất thủ , họ mới chỉ có 20 tuổi , không quyền hành nhiều , không chức tước cao .
    Tóm lại , họ không có ” Nợ Máu ” đối với dân tộc VN

    3 – Đảng CS VN đã thay đổi cũng như Đảng CS Tầu :
    Về kinh tế : Tư Bản .
    Về chính trị : CS .

    4 – VNCH thì Mỹ Quốc viện trợ cả về quân sự lẫn kinh tế .
    Cựu Đại Sứ Mỹ , Cabot Lodge đã nói với các ký giả :
    Tất cả kinh tế VN , nếu tính bằng USD , thì không bằng 1 ngày chiến phí cuả Mỹ tại VN .

    Ngày nay , VN giầu hơn khi xưa rất nhiều , mà chẳng có nước nào viện trợ cả .
    Trái lại , khi xưa , VNCH phụ thuộc 100% vào Mỹ cả về quân sự , lẫn về kinh tế .

    Ngày nay , VN xây subway (métro) , xây các trung tâm thương mại to lớn , mua các vũ khí tối tân cuả Nga bằng tiền túi .
    So sánh như thế , thì VN ngày nay hơn hẳn VNCH về phương diện kinh tế và tự túc .
    Nhiều người VN cư ngụ tại các nước Âu Mỹ bắt đầu về VN nghỉ hưu .

    5 – VNCH , nhưng mà VNCH là của Mỹ .
    Khi Mỹ bỏ , VNCH tan trong 2 tháng (1 triệu rưỡi quân ).
    Mỹ đã bỏ VN từ 1972 , ngay sau khi Nixon thăm Tầu .

    Lobby Do Thái , là lobby mạnh nhất thế giới .
    Vì chủ nghiã Sionism , vì Israêl , lobby Do Thái bắt Mỹ bỏ VN .
    Cũng chính lobby này đã tổ chức thường xuyên các vụ biểu tình chống chiến tranh Mỹ ở VN . Những cuộc biểu tình chống chiến tranh xẩy ra ở khắp các nước Âu Mỹ , và trên rất nhiều nước trên thế giới .

    VNCH bị mất hết uy tín trên trường quốc tế .

    1973 : rất nhiều nhà giầu VNCH đã chạy trốn sang Âu Châu ,
    có người sang Phi Châu .
    1973 : Canada và Pháp thiết lập ngoại giao cấp Đại Sứ với Hànội .
    Năm sau , đến các nước Bắc Âu , và các nước Tây Âu khác .

    VNCH bị cô lập trên quốc tế vì tuyên truyền , vì đầu độc tin tức (intoxication ) , vì các medias mà lobby Do Thái nắm quyền , và vì chính giới Mỹ , phải chiều theo lobby Do Thái vì Sionism .

    NGUY CƠ CHO VN : TẦU

    TẦU đã đô hộ VN rất lâu : 1050 năm và 21 năm (nhà Minh) . VN được tự chủ không tới 1000 năm kể từ thời Ngô Quyền .

    Ngày nay , TẦU đứng thứ nhì thế giới về quân sự và về kinh tế .

    Nhưng bộ binh cuả Tầu vẫn luôn luôn mạnh nhất thế giới (ũng không chắc ?), kể từ ngày đọ sức với Mỹ và Đồng Minh ở chiến tranh Triều Tiên (1950-1953).

    Ngay trong chiến tranh Triều Tiên , máy bay Mỹ đã bị Tổng Thống Mỹ cấm không cho thả bom xuống Mãn Châu (bên kia sông Áp Lục , tức là Tầu) .
    Trong khi đó, mày bay do Liên Xô lái , tha hồ bay sang dội bom vào quân Mỹ và quân dân Nam Hàn .

    Tầu mạnh nhất vùng Đông Nam Á , vùng có nước VN.

    Tất cả các dân tộc , tất cả các quốc gia trên thế giới đều kết án các vụ toa rập với ngoại bang .

    Tội còn lớn hơn nữa , nếu ngoại bang đó là 1 Đại Cường Quốc .
    Tội còn lớn hơn rất nhiều nữa , nếu đó là 1 Đại Cường Quốc đã từng đô hộ rất lâu VN ,và trong hơn 1 lần . Đấy là Phản Quốc , đấy là Phản Dân Tộc VN .

    Tất cả cái gì có hại cho VN , là có lợi cho Tàu . “Đèn Cù ” là 1 trong hàng ngàn trường hợp .

    Lôi những chuyện cũ rích ra , những chuyện ” Biết rồi , khổ lắm nói mãi ” là tạo ly tán hơn nữa giữa người VN với nhau trong lúc này , mà sự đoàn kết cuả VN cần hơn bao gờ hết .

    Những bọn như Tác Giả Đèn Cù nhung nhúc trong số người VN .
    Chúng nhận lệnh cuả Tàu , chúng nhận Nhân Dân Tệ , hay USD cuả Tàu , để làm tay sai cho Tầu , giúp Tầu đô hộ VN.

    Những bọn VNHN chống Cộng đến cùng cũng rứa . Chúng chỉ mơ ước ngày đêm để Tầu đô hộ VN , để chúng chửi VC cho đã .

    Những VNHN Chống Cộng đến cùng cười sung sướng khi thấy xác VC nằm ngổn ngang .
    Đấy là những hình Tầu chụp những anh hùng tử sĩ VN ở Lão Sơn , hay ở Hoàng Sa , Trường Sa .

    Chỉ có những bọn Phản Quốc , Phản Dân Tộc VN mới dám có những hành động bỉ ổi đến như thế .

    Khi Tầu xử tử hàng loạt tù binh VN , và man di mọi rợ hơn nữa , khi Tầu chụp những hình xử tử này thì VNHN chống CS vỗ tay reo .
    Phản ứng bình thường khi là người , dù là VN hay Âu Mỹ, đó là lên án tội ác chiến tranh cuả Tàu Phù .
    Đằng này , bọn phản quốc VN vỗ tay , để hoan hô Tầu Phù và lại chửi VC vì đã không trao vũ khí cho tù binh .
    Tù binh nào có vũ khí : tù binh Mỹ ở Hoả Lò Hànội , hay tù binh Pháp ở Điện Biên ? Không thể nào ngu xuẩn hơn , không thể nào phản quốc, phản dân tộc VN hơn .

    Mà nếu Tầu đô hộ lần này , thì VN sẽ bị xoá tên vĩnh viễn trên bản đồ thế giới.

    Nếu chúng ta đã không làm được gì để cưú VN, thiết tưởng chúng ta cũng không nên làm gì để làm hại cho VN , và làm lợi cho Tầu .Vì như thế là Phản Quốc .

    Để kết thúc , xin mượn lời cuả T.T. J.F.Kennedy mà chúng tôi đã đến thăm mộ tại Nghiã Trang Quốc Gia Arlington ở Washsington D.C.
    TT Kennedy đã nói 1 câu bất hủ , mà ai cũng biết :

    Ask not the nation does for you ,
    Ask what you can do for the nation.

    Like

    • Đây lại là luận điệu của chú Nhô usa thường bi bô trên blog của voatiengviet.com rồi.Tôi thì chỉ một ý khiến là toàn bộ chóp bu Đảng CSVN tự thú với toàn dân trong nước ràng ;Đảng đã sai ma mang nhiều tội ác với toàn dân VN,trước tiên là ở miền Bắc và sau 75 là cả toàn dân từ Nam Quam tới Mũi Cà Mau,sau đó tổ chính thức trao trả mọi quyền điều hành đất nước cho toàn dân trong nước bằng cuộc bầu cử tự do có LHQ chứng kiến.

      Like

  4. Mỹ và thế giới đang lên án hành động tàn bạo mất nhân tính (cắt đầu 2 nhà báo Mỹ) của tổ chức ISIS. Đúng vậy, những kẻ mất nhân tính này phải bị “nhân loại” trừng trị thích đáng

    Nhưng nếu xem xét lại cho kỹ và so sánh mọi thứ thì Việt cộng còn tàn bạo, dã man, độc ác… mất nhân tính hơn gấp nhiều lần al-Qaeda hoặc ISIS.
    The “Bad, Bad” Vietcong
    The Blood-Red Hands of Ho Chi Minh
    Cộng sản: thời xưa tốt, thời nay xấu…

    Thời Việt minh & Việt cộng trước 75: Những cách giết người khá phổ thông. mà vc đã sử dụng:
    Chặt đầu bằng mã tấu.
    Thọt lỗ đít bằng cây tre
    Cột đá liệng sông ( cho mò tôm)
    v.v…
    Những kiểu xử tử & cách hành họa, đày đọa … người vô tội “rùng rợn / dã man” trong CCRĐ.

    Sau 75:
    Nạn nhân của “cải cách tư sản”.
    Tù nhân của các trại cải tạo & gia đình họ.
    Xô dân ra biển – bao nhiêu vụ vc “gạt người lấy vàng”, để chiếm nhà cửa, tài sản… Nói nôm na, xô, đẩy người dân ra biển để “làm mồi cho cá” trên những chiếc thuyền “đi sông” để vượt biển – mà lại còn chở quá tải, chất người như mắm nêm. Khoảng 76- 78. Người dân ở các vùng bờ biển thấy xác người & vật dụng trôi dạt vào bờ rất thường. Có nơi, lúc đó, người dân không dám ăn tôm (vì tôm ăn xác chết).

    Bin Laden, là 1 trùm khủng bố, là kẻ sát nhân là 1 sự thật. Nhưng bàn tay của Bin (có thể) không nhuốm máu đồng bào, đồng chủng của y ta. Còn Việt cộng thì ngược lại. Bàn tay của vc nhuộm máu dân lành Việt nam là chính. Nếu so sánh, thì sự tàn độc/ tàn nhẫn, mất nhân tính… của vc hơn xa lắc al-Qaeda và ISIS. Và nạn nhân của vc thì nhiều gấp ngàn lần của al-Qaeda + ISIS.

    Vì vậy, những bàn tay nào mà “bắt tay” với những bàn tay sát nhân này. Dù đó là của người Mỹ, dù là Anh, dù là Pháp… thì họ cũng đã (gián tiếp) để tay họ dính máu các nạn nhân vô tội. Và dù cho AI đó dùng bất cứ “biện luận” nào thì “bắt tay với kẻ giết người vô tội cũng là một tội lỗi “!!!

    => To shake hands with Viet cong, who killed a lot of innocent human is a sin! There is no excuse for it. Period!

    Like

  5. Mỹ và thế giới đang lên án hành động tàn bạo mất nhân tính (cắt đầu 2 nhà báo Mỹ) của tổ chức ISIS. Đúng vậy, những kẻ mất nhân tính này phải bị “nhân loại” trừng trị thích đáng

    Nhưng nếu xem xét lại cho kỹ và so sánh mọi thứ thì Việt cộng còn tàn bạo, dã man, độc ác… mất nhân tính hơn gấp nhiều lần al-Qaeda hoặc ISIS.
    The “Bad, Bad” Vietcong
    The Blood-Red Hands of Ho Chi Minh
    Cộng sản: thời xưa tốt, thời nay xấu… ,/a>

    Thời Việt minh & Việt cộng trước 75: Những cách giết người khá phổ thông. mà vc đã sử dụng:
    Chặt đầu bằng mã tấu.
    Thọt lỗ đít bằng cây tre
    Cột đá liệng sông ( cho mò tôm)
    v.v…
    Những kiểu xử tử & cách hành họa, đày đọa … người vô tội “rùng rợn / dã man” trong CCRĐ.

    Sau 75:
    Nạn nhân của “cải cách tư sản”.
    Tù nhân của các trại cải tạo & gia đình họ.
    Xô dân ra biển – bao nhiêu vụ vc “gạt người lấy vàng”, để chiếm nhà cửa, tài sản… Nói nôm na, xô, đẩy người dân ra biển để “làm mồi cho cá” trên những chiếc thuyền “đi sông” để vượt biển – mà lại còn chở quá tải, chất người như mắm nêm. Khoảng 76- 78. Người dân ở các vùng bờ biển thấy xác người & vật dụng trôi dạt vào bờ rất thường. Có nơi, lúc đó, người dân không dám ăn tôm (vì tôm ăn xác chết).

    Bin Laden, là 1 trùm khủng bố, là kẻ sát nhân là 1 sự thật. Nhưng bàn tay của Bin (có thể) không nhuốm máu đồng bào, đồng chủng của y ta. Còn Việt cộng thì ngược lại. Bàn tay của vc nhuộm máu dân lành Việt nam là chính. Nếu so sánh, thì sự tàn độc/ tàn nhẫn, mất nhân tính… của vc hơn xa lắc al-Qaeda và ISIS. Và nạn nhân của vc thì nhiều gấp ngàn lần của al-Qaeda + ISIS.

    Vì vậy, những bàn tay nào mà “bắt tay” với những bàn tay sát nhân này. Dù đó là của người Mỹ, dù là Anh, dù là Pháp… thì họ cũng đã (gián tiếp) để tay họ dính máu các nạn nhân vô tội. Và dù cho AI đó dùng bất cứ “biện luận” nào thì “bắt tay với kẻ giết người vô tội cũng là một tội lỗi “!!!

    => To shake hands with Viet cong, who killed a lot of innocent human is a sin! There is no excuse for it. Period!

    Like

  6. Ai Đã Ra Lệnh Treo Cờ Phật Giáo Tại Huế : Tết Mậu Thân 1968 & Tại Đà Nẵng Từ 29-03 Đến 30-04-1975 (Phật Giáo Ấn Quang Thích Đôn Hậu tàn sát khủng bố dân Đà Nẵng dã man nhất là Công Giáo để lập công với đảng csvn)
    http://motgoctroi.com/StLichsu/LSCandai/AiralenhtreocoPG_01.htm

    Phật Giáo Ấn Quang Thích Đôn Hậu sư sãi gì mà dã man tàn bạo vô nhân đạo và mất cả nhân tính vì tàn sát khủng bố dân Đà Nẵng dã man nhất là Công Giáo để lập công với đảng csvn

    *

    AI ĐÃ RA LỆNH TREO CỜ PHẬT GIÁO TẠI HUẾ : TẾT MẬU THÂN, 1968 ; & TẠI ĐÀ NẴNG TỪ 29-03 ĐẾN 30-04-1975 ?

    HÀN GIANG TRẦN LỆ TUYỀN

    Vừa qua tôi đã đọc tất cả những loạt bài viết về cuộc thảm sát tại Huế, Tết Mậu Thân, 1968 ; của các tác giả , trong đó có Tác giả Liên Thành, Cựu Trưởng Ty Cảnh Sát Thừa Thiên-Huế, và của Tác giả Trần Gia Phụng trên Trang điện tử vnfa.com.

    Về Tác Giả Liên Thành, thì không ai có thể phủ nhận được những điều Ông đã viết về «Thầy tu Thích Đôn Hậu » đã được một người mang tên Hoàng Tố Loan ở trong chùa Từ Đàm, tên này đã có một đứa con với một ni cô trong chùa. Và chính Hoàng Tố Loan đã đưa Thích Đôn Hậu và đồng bọn chạy ra chiến khu của VC, qua loạt bài « Biến Loạn Miền Trung » vì Ông là một chứng nhân qua những cuộc thảm sát tại Huế.

    Về Tác Giả Trần Gia Phụng qua chương : « Tàn Sát Thiên Chúa Giáo ». Ông đã viết :
    « … Khi mới vào Gia Hội, cộng quân ra lệnh mọi nhà phải treo cờ Mặt trận Giải phóng Miền Nam Việt Nam. Dân chúng không có cờ MTGP, nên cộng quân ra lệnh treo cờ Phật giáo ( Don Oberdorfer, sđd. 225). Đây là một âm mưu của cộng sản : Cộng quân dư biết dân chúng sống dưới chế độ Miền Nam không thể có cờ MTGPMN mà vẫn ra lệnh treo cờ Mặt Trận nầy, rồi lấy lý do không có cờ MTGP mới đổi qua cờ Phật Giáo, cộng quân sẽ biết nhà nào theo Thiên Chúa Giáo. Vì những gia đình theo Đạo Thiên Chúa làm gì có cờ Phật Giáo mà treo ? ».

    Thực ra, ít ai biết đến một sự thật là vào Tết Mậu Thân 1968, trong lúc Việt cộng đã kiểm soát được Thành phố Huế, nên khi các vị đã thấy cờ của Phật giáo được treo trên khắp đường phố, thì các vị cứ tưởng rằng Việt cộng đã ra lệnh treo cờ Phật giáo. Nhưng mọi chuyện hoàn hoàn không như các vị đã nghĩ. Còn riêng tôi, tôi không phải chỉ viết mà đã thấy tận mắt những kẻ đem cờ Phật giáo treo tràn ngập tại thành phố Đà Nẵng, và đã đứng bên cạnh những người tay cầm loa phóng thanh, mồm không ngớt kêu gọi mọi người hãy treo cờ Phật giáo từ ngày 29/3/1975, cho đến ngày 30/04/1975, tại thành phố Đà Nẵng. Cũng như tôi đã chứng kiến qua những cuộc thảm sát mà Phật giáo Ấn Quang đã gọi là những « cuộc đấu tranh » đến nỗi Trời long, đất lỡ !!!

    AI ĐÃ RA LỆNH TREO CỜ PHẬT GIÁO ?

    Tôi sinh ra và trưởng thành trong một gia đình có Đức Tin, tôi tuyệt đối tin vào Đấng Toàn Năng, tức Ông Trời của người Việt Nam. Bởi vậy, khi đặt bút viết, hoặc khi nói một điều gì là tôi đã tự đặt mình như đứng trước Thượng Đế trong giờ phán xét sau cùng. Vì thế, tôi không bao giờ viết hay nói một điều gì sai với sự thật cả.

    Tôi đã sống qua những ngày tháng kinh hoàng nhất tại Đà Nẵng . Đặc biệt, là những ngày cuối cùng trước khi ĐN rơi vào tay của cộng sản. Tôi đã nghe lời kêu gọi của HT Thích Đôn Hậu phát đi từ « Đài Phát thanh Giải phóng » và được truyền thanh tại chùa Pháp Lâm ở số 500, đường Ông Ích Khiêm ĐN, đã phát ra lời kêu gọi của « Hòa thượng » Thích Đôn Hậu như sau :
    « Tôi Hòa thượng Thích Đôn Hậu, Đại diện Trung ương Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam – Đại diện Chính phủ Cách mạng Lâm thời Miền Nam Việt Nam,- và Chánh Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất miền Vạn Hạnh ( miền Trung). Tôi long trọng tuyên bố : Kể từ giờ phút này, GHPGVNTN đã hoàn thành sứ mạng của lịch sữ. Vì vậy, tôi yêu cầu tất cả đồng bào hãy treo cờ Phật giáo, nếu nhà nào không có, thì hãy đến mua tại các chùa, để chào mừng cách mạng đã thành công và cũng để thể hiện rằng đồng bào không chống đối chính quyền cách mạng ».

    Tại Đà Nẵng vào thời điểm ấy, khi nghe những lời kêu gọi của « Hòa thượng » Thích Đôn Hậu như trên, mọi người ai cũng hiểu là « Hòa thượng » Thích Đôn Hậu vừa kêu gọi vừa cảnh cáo ngầm rằng « … để thể hiện rằng đồng bào không chống đối chính quyền cách mạng ». Nghĩa là : Ai không treo cờ Phật giáo là chống cộng sản.

    Vì thế, nên nhiều người bình thường họ chỉ thờ cúng ông bà hoăc Khổng giáo ; song vì muốn yên thân nên đã đến các «chùa» mua cờ ngũ sắc đem về treo trước cửa, xem như là lá bùa hộ mệnh. Trừ ba tôn giáo đã chấp nhận mọi thứ nhưng cương quyết không treo cờ Phật giáo đó là Công Giáo, Tin Lành và Cao Đài.

    TẠI SAO THÍCH ĐÔN HẬU RA LỆNH TREO CỜ PHẬT GIÁO ?

    Bởi Thích Đôn Hậu đã từng được sống bên cạnh Hồ Chí Minh, được Hồ Chí Minh tin cậy và nhất là đã « lập nhiều chiến công dâng Bác » nên đã cậy vào những « công lao » to lớn ấy lại thêm « phật tử » đông đão, nên Thích Đôn Hậu nhất định phải tóm thâu hết mọi quyền hành trong tay. Như mọi người đã thấy, ngay Võ Nguyên Giáp mà cho đến nay sắp chết rồi, Việt cộng mới chuẩn bị vinh danh sáu mươi năm làm tướng và trao « Ấn kiếm » tượng trưng ; song suốt sáu mươi năm làm tướng mà Võ Nguyên Giáp cũng chỉ có hai cái phần thưởng là : Huân Chương Sao Vàng và Huân Chương Hồ Chí Minh. Còn Thích Đôn Hậu cũng được Hà Nội ban thưởng : Huân Chương Hồ Chí Minh ngang bằng với Võ Nguyên Giáp. Ngoài ra, Thích Đôn Hậu còn có Huân Chương Độc Lập- Huân Chương Vì Sự Nghiệp Đại Đoàn Kết Toàn Dân, cộng thêm với quá nhiều chức tước mà tôi đã kể qua trong bài Tưởng Niệm Bốn Mươi Năm Cuộc Thảm Sát Mậu Thân.

    Chính vì thế, nên Thích Đôn Hậu muốn tranh và cướp quyền với cộng sản Hà Nội. Chính Thích Đôn Hậu đã ra lệnh cho các « chùa » phải sắm sẵn nhiều cờ để đem ra treo tràn ngập tại Huế. Bởi Thích Đôn Hậu đã tưởng là Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sẽ không tái chiếm nổi thành phố Huế, để nói với dân miền Nam rằng : Phật giáo Ấn Quang đã chiến thắng. Để mọi người kể cả cộng sản Hà Nội cũng phải thần phục, vì Việt Nam có đến tám- chín mươi phần trăm là Phật tử (ma). Nhưng, Thích Đôn Hậu và cả Phật giáo Ấn Quang đã không lượng được tài sức của mình, có lẽ vì thấy đã từng « thành công » qua những cuộc bạo loạn đầy máu lữa tại miền Trung, nên cứ tưởng rằng cũng sẽ áp đảo được Việt Cộng trong biến cố Mậu Thân, 1968 tại Huế. Nhưng Thích Đôn Hậu và cả Ấn Quang đã lầm ; vì cộng sản Hà Nội chúng cao tay hơn nhiều, nên những ngày đầu khi Thích Đôn Hậu ra lệnh treo cờ Phật giáo tại Huế , thì Việt cộng đã thấy rõ mưu đồ của Phật giáo. Vì thế, Việt cộng đã ra lệnh phải hạ cờ Phật giáo ngay, và treo cờ của « Mặt trận Giải phóng Miền Nam Việt Nam ».

    Nhưng cuồng vọng ấy Phật giáo Ấn Quang cũng không từ bỏ, nên từ ngày 29/03/1975 đến 30/04/1975 tại Đà Nẵng ; Thích Đôn Hậu cũng ra lệnh treo cờ Phật giáo và Ra lệnh cho Quân-Cán-Chính-Việt Nam Cộng Hòa phải đến trình diện tại chùa Pháp Lâm, ở số 500, đường Ông Ích Khiêm, là « Trụ sở Ủy ban Hòa hợp-Hòa giải Thị bộ Đà Nẵng » , rồi cũng cấp giấy trình diện cho các vị ấy, để rồi sau đó Phật giáo Ấn Quang đã bị những cán bộ cao cấp của đảng cộng sản như : Hoàng Châu Ký, Hoàng Văn Lai, Trần Thận … chửi như tạt nước vào mặt cũng tại chùa Pháp Lâm này. Người dân Đà Nẵng vẫn nhớ vào ngày 18/05/1975, chính Thích Đôn Hậu đã ra lệnh cho đồng bào tại Đà Nẵng và các vùng lân cận : « Mỗi gia đình ít nhất phải có một người để cầm đèn đuốc đi diễn hành trong đêm 18 rạng ngày 19/05/1975, để mừng sinh nhật của bác Hồ vị cha già của dân tộc » ; mà tôi đã viết qua trong bài 30/4/1975, Máu Và Nước Mắt.

    Song những bài học xương máu ấy, vẫn không làm cho Phật giáoẤn Quang chịu từ bỏ cái cuồng vọng tái lập Lý triều. Mặc dù mỗi ngày những Phật tử chân chính họ càng thêm sáng suốt, họ nhận ra những hành vi của các « thầy ». Vì vậy, mà một số đông khi vào tù cải tạo của việt cộng, trong những tháng năm dài bị hành hạ, khổ đau trong lao lý họ đã suy nghiệm được tất cả, và họ đã quyết định tu tâm, tu tại gia chứ không dám tới chùa chiền nữa. Một số đông các vị đã trở thành những tín hữu TCG, trong đó có Trung tá Nguyễn Tối Lạc, Quận trưởng quận Đức Dục, Ông đã xin ba vị Linh Mục đó là : Linh Mục Vũ Dần- Linh Mục Tống Kiên Hùng và Linh Mục Đặng Đình Canh để được học giáo lý ngay trong nhà biệt giam 2.79 (Đồng Mộ), Tiên Phước, Quảng Nam.

    Chẳng những thế, mà giờ đây tại Đà Nẵng, ngay những Phật tử mà trước đây họ từng nghe lời xúi dục của các « thầy », họ đã lên với xuống đường, từng là « Thanh niên Phật tử quyết tử … » . Nhưng giờ đây, chẳng những họ không đến chùa, mà họ còn đem tất cả các bài học xương máu của ngày xưa để kể lại cho con cháu nghe, và khuyên con cháu họ đừng bao giờ đến chùa , vì họ sợ con cháu của họ sẽ rơi xuống vực sâu của tội ác.

    Và cũng chính vì thế, tôi muốn nói với các thầy, thôi đừng mơ mộng đến một cuộc đấu tranh cái kiểu bê bàn Phật xuống để đầy đường như mùa hè 1966. Đừng kêu gào đến dân oan vô ích, bởi những người đó nếu quả họ có oan thì họ cũng chỉ đòi hỏi sự công bằng, chứ chẳng có ai đi tranh đấu để tranh quyền, đoạt lợi dùm cho các thầy đâu. Không phải bây giờ, mà cả sau này không còn cộng sản, hay cho đến muôn nghìn kiếp sau cũng vậy.

    LỰC LƯỢNG HÒA HỢP-HÒA GIẢI : KHỦNG BỐ VÀ GIẾT NGƯỜI.

    Như mọi người đã thấy, hầu hết các cuộc tấn công của cộng quân tại miền Nam là các « thầy » đều biết trước và chuẩn bị mọi sự một cách chu đáo, trong đó phải có sẵn thật nhiều cờ Phật giáo ở các « chùa ». Để rồi dưới ngọn cờ ngũ sắc kia là cả một đoàn quân với sắc mặt lạnh lùng, đằng đằng sát khí, chỉ biết khủng bố và giết người, không hề biết động lòng xót thương trước những lời khẩn cầu của những người mẹ, người vợ và những đứa con thơ dại đang quỳ dưới chân họ vừa khóc, vừa lạy, để xin tha mạng cho chồng, cho con của họ!!!

    NGÀY GIỖ THỨ 33 CỦA CÁC NẠN NHÂN ĐÃ CHẾT DƯỚI BÀN TAY CỦA PHẬT GIÁO THÔNG NHẤT (ẤN QUANG). .

    Đến đây, nhân ngày giỗ lần thứ 33 của các nạn nhân đã chết thảm dưới bàn tay của « Lực lượng Hòa hợp-Hòa giải Phật giáo » tại Đà Nẵng. Tôi xin phép các bậc phụ huynh cho tôi được nhắc lại những cái chết của các vị ấy kể từ ngày 29/03/1975 đến 30/04/1975 :

    Trước hết là Thiếu tá Trần Quốc Dân, trước năm 1954, ông ở trong hàng ngũ kháng chiến chống Pháp. Năm 1954, ông tập kết ra Bắc giữ cấp bậc Trung đoàn trưởng Trung đoàn Sao Vàng, Trung đoàn phó là Nguyễn Chơn. Năm 1962, Trung doàn Sao Vàng vào Nam, khi bắt được sự liên lạc lạc với một người của Ông Ngô Đình Cẩn, nên trong một lần giao tranh với quân đội Việt Nam Cộng Hòa tại Đại Lộc, Quảng Nam, ông Trần Quốc Dân đã trốn và vượt qua sông Thu Bồn về được Đà Nẵng. Sau đó, ông được người của ông Ngô Đình Cẩn đưa vào Sài Gòn, và ông đã gặp được Tổng Thống Ngô Đình Diệm, ông kể với người thân :
    -« Tôi muốn vào Sài Gòn để trình diện Tổng Thống Ngô Đình Diệm, vì chỉ có Tổng Thống mới hiểu được những người tham gia kháng chiến và đặc biệt là trường hợp của tôi. Và tôi đã nghĩ đúng. Vì khi gặp mặt Tổng Thống, sau khi nói rõ về mình và trình bày nguyện vọng của tôi thì Tổng Thống đã dạy rằng : Tôi hiểu được chú em, bây giờ đáng lẽ ra tôi trả lại em quân hàm Trung tá, vì ngoài đó có cấp Thượng tá, nhưng thôi vì danh dự của Quân Đội Quốc Gia, em hãy nhận quân hàm Thiếu tá.

    Tôi xin được ra chiến đấu nhưng Tổng Thống bảo :
    – Không được, hãy về tìm thân nhân để đoàn tụ trước khi nhận công tác.
    – Và Tổng Thống nói, vì biết tôi trở về với hai bàn tay trắng, không nhà cửa để nương thân, nên chính từ tay củaTổng Thống đã ban thưởng tôi ba trăm ngàn đồng ( tiền VNCH) để tạo điều kiện cho tôi tái lập gia đình ».

    Trở về Đà Nẵng sau một thời gian ngắn ông Dân mua một căn nhà tại đường Trần Cao Vân và cưới vợ. Sau đó ông làm việc tại Bộ Công Dân Vụ.

    Một năm sau, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã bị bọn Hội đồng Gian nhân phản loạn giết chết. Là người cứng cỏi nhưng ông Dân đã rơi nước mắt, ông kêu lên :
    « Thế là hết, Ngô Tổng Thống không còn nữa thì sẽ không còn ai hiểu tôi ngoài Tổng Thống ».
    Sau một thời gian ông lại tâm sự với người thân :
    « Tôi chán nản trước nạn kiêu binh và kiêu tăng ngày càng lộng hành trên đất nước, chắc tôi sẽ xin xuất ngũ ».

    Tôi không nhớ rõ ngày tháng, nhưng sau đó ông đã xin xuất ngũ với giấy chứng nhận của Bác sĩ vì bệnh tật. Đã bao nhiêu năm qua rồi, nhưng tôi vẫn không hề quên những lời của ông đã kể như sau :
    « Vì muốn tiếp tục phục vụ đất nước nên sau nhiều đêm suy nghĩ, tôi muốn gia nhập vào Việt Nam Quốc Dân Đảng. Tôi nhận thấy tại Quảng Nam-Đà Nẵng có hai phái dù hoạt động riêng ; nhưng cũng đều nhân danh là Việt Nam Quốc Dân Đảng. Trước hế, là một lực lượng đông đão có hệ thống, kỹ cương trong đó có : Biệt Kích Quân Tây Hồ, Biệt Chính Nhân Dân, Lực Lượng Tình Báo Tác Chiến, Trung Tâm Dân Ý Vụ và Thanh Niên Đoàn Miền Trung …( Các lực lượng này được hưởng ngoại viện) tất cả đều trực thuộc Trung Ương Pháp Định do cụ Vũ Hồng Khanh lãnh đạo.

    Lực lượng này không bao giờ tham gia vào những cuộc đấu tranh-biểu tình- mang bàn Phật xuống đường của Phật giáo Ấn Quang, mà còn tiếp tay với chính phủ một cách đắc lực không cho Phật giáo chiếm Huế và Đà Nẵng để lập thành lập « Chính phủ Miền Trung » theo chỉ đạo của cộng sản Hà Nội ; và một nhóm thứ hai là Kỳ Đảng Bộ Trung Việt, thường được gọi là Kỳ bộ Trung Việt , hoặc là Kỳ bộ ; nhóm này cũng xưng là Việt Nam Quốc Dân Đảng, nhưng luôn ủng hộ và tôn vinh ông Nguyễn Tường Tam là lãnh đạo của Đại Việt Dân Chính. Rất nhiều người đã biết ông Nguyễn Tường Tam vì muốn đứng ké dưới hào quang của anh hùng Nguyễn Thái Học, nên đã có liên minh với Việt Nam Quốc Dân Đảng do cụ Vũ Hồng Khanh, cụ Nghiêm Kế Tổ và cụ Chu Bá Phượng lãnh đạo một thời gian ngắn ; mục đích là để cướp quyền lãnh đạo của Việt nam Quốc Dân Đảng Chính Thống, nhưng không thành. Sau biến cố Ôn Như Hầu, tháng 3/1946, cụ Vũ Hồng Khanh đã rút quân lên vùng Bùi-Phát và đã được Đức Cha Lê Hữu Từ và Giáo dân giúp đỡ phương tiện, kể cả việc cung cấp thực phẩm để thành lập Chiến khu Cao-Bắc-Lạng để chiến đấu với cộng sản. (Bởi Ân Đức ấy, nên khi Đức Cha Lê Hữu Từ tạ thế, chính Tướng Siêu Hải Vũ Hồng Khanh, Nguyên Tư lệnh Chiến khu Cao-Bắc-Lạng, đương kim Chủ tịch Trung ương Pháp định đã ra lệnh cho tất cả đảng viên VNQDĐ trên toàn quốc đều làm lễ Truy điệu và chịu tang).

    Còn ông Nguyễn Tường Tam ngay sau biến cố Ôn Như Hầu đã rút lui khỏi liên minh và cùng một nhóm Đại Việt Dân Chính đã chạy trốn sang Tàu… Vì vậy, đương nhiên kể từ lúc đó, tháng 3/1946, là ông Nguyễn Tường Tam đã trở lại với Đại Việt Dân Chính. Nhưng tiếc rằng, vẫn có nhiều người vì không thấu đáo mọi chuyện, nên đã lầm tưởng ông Nguyễn Tường Tam là Việt Nam Quốc Dân Đảng. Tại miền Trung, người ta biết ông Nguyễn Tường Tam đã đứng đàng sau nhiều người.

    Trước hết, là ông Lê Đình Duyên cựu Quận trưởng quận Duy Xuyên, Quảng Nam, ông Lê Đình Duyên đã mang con dấu quận trưởng đem trả cho chính phủ, kế đến là ông Phan Thiệp, quận trưởng quận Tam Kỳ, người thứ ba là ông Phan Vỹ, quận trưởng quận Thăng Bình. Cả ba người này sau khi đem trả con dấu Quận trưởng họ đều rút ra bưng cùng một số đảng viên thành lập ra Chiến Khu Nam-Ngãi, để chống chính quyền Đệ Nhất Cộng Hòa.

    Ông Lê Đình Duyên là con ruột của Bác sĩ Lê Đình Thám là người Quảng Nam, là một đảng viên cộng sản kỳ cựu đã tập kết ra Bắc; song ông đã hồi kết, và vẫn như bóng vời hình tại miền Nam, đặc biệt là tại miền Trung. Chính Bác sĩ Lê Đình Thám là người đã đẻ ra cái gọi là « Gia đình Phật tử », là một tổ chức ngoại vi của đảng cộng sản Hà Nội. Trong thời gian này, dưới sự chỉ đạo của Bác sĩ Lê Đình Thám, cộng thêm với cảm tình với ông Nguyễn Tường Tam là người gốc Quảng Nam, nên nhóm này đã lôi kéo được một thiểu số đảng viên của Cụ Vũ Hồng Khanh ra chiến khu. Chính điều này, đã đưa Cụ Vũ vào một thế vô cùng khó xữ… Song sau đó nhờ sự sáng suốt của Ông Ngô Đình Nhu mà đa số những người này đã tự ý rời bỏ « Chiến khu Nam- Ngãi » trở về làm việc lại như cũ, chứ Chiến khu Nam- Ngãi không hề bị quân đội VNCH tấn công như những lời tuyên truyền xuyên tạc của Phật giáo. Chỉ có một thiểu số vẫn trung thành với hai ông Nguyễn Tường Tam và Lê Đình Thám mà thôi. Vì vậy, nên cuối cùng tôi quyết định xin cộng tác với cụ Vũ Hồng Khanh, bởi tôi không bao giờ chấp nhận những hành vi của đảng Đại Việt Dân Chính do ông Nguyễn Tường Tam lãnh đạo ».

    Chức vụ cuối cùng của ông Trần Quốc Dân là một trong bốn Phó Chủ tịch Thành bộ Hợp nhất Đà Nẵng. Vào ngày 24/03/1975, trong lúc Đà Nẵng chưa mất, nhưng Lực lượng Hòa hợp-Hòa giải Phật giáo kiểm soát Thành phố Đà Nẵng rồi. Trong lúc ông Dân chuẩn bị đưa vợ con di tản, thì bất ngờ hai ông Đại đức Thích Như Ký, Tổng thư ký Giáo hội Tăng già Quảng Nam-Đà Nẵng cùng Huỳnh Phổ, cư sĩ Chánh đại diện Giáo hội Phật giáo quận nhì ( cả hai là cố vấn của LLHHHG thị bộ Đà Nẵng) đã dắt theo một đám thanh niên Phật tử có vũ trang đến nơi ( sau này tất cả đều trở thành công an VC). Hai người vào nhà ông Dân, Thích Như Ký nói :
    « Chúng tôi ban lãnh đạo Lực lượng hòa hợp-hòa giải thị bộ Đà Nẵng mời ông lên chùa tỉnh hội ( chùa Pháp Lâm) để cùng làm việc, ông hãy tin tưởng vào chúng tôi và ông sẽ có một chỗ đúng trong lòng dân tộc ».

    Nói là « mời » nhưng đám thanh niên Phật tử đứng sau lưng hai ông này, tên nào cũng lăm lăm tay súng. Không còn cách nào khác hơn nên ông Dân đành phải theo chúng lên « chùa ».

    Ông Dân đi rồi, gia đình biết ông sẽ gặp nguy nên vợ ông đã dắt hai đứa con nhỏ của ông lên « chùa » Pháp Lâm ở số 500, đường Ông Ích Khiêm để xin gặp mặt chồng, nhưng đội « An ninh Phật tử » chặn ngay ngoài cổng không cho vào. Vợ ông khóc lóc van lạy thế nào cũng không được nên đành dắt con trở về.

    Ngày 30/03/1975, khoảng 10 giờ sáng, Ủy ban Hòa giải Phật giáo đã đưa ông Trần Quốc Dân đi từ « chùa » Pháp Lâm đến nhà giam Kho Đạn ở số 15, đường Đào Duy Từ, Đà Nẵng. Chúng đã trói hai tay ông ra sau, còn tròng thêm một vòng thòng lọng lên cổ, cách trói này giống như chúng đã trói các vị viên chức chính quyền, các cán bộ Nghiệp đoàn lao công và các đảng viên VNQDĐ, trong cuộc bạo loạn mang bàn Phật xuống đường, vào mùa hè 1966, khi áp giải các vị nói trên đến nhà tù (chùa) Phổ Đà ở số 340, đường Phan Châu Trinh ĐN. Bởi cách trói này, nếu nạn nhân bỏ chạy, thì sợi dây sẽ tự thắt cổ lại mà chết. Như thế mà vẫn chưa đủ mà « An ninh Phật tử » còn cầm súng đi kèm. Thấy ông Trần Quốc Dân bị chúng áp giải trên đường phố, đồng bào Đà Nẵng đã gọi chúng là « Ủy ban Phật giáo Áp giải ».

    Ngày 03/03/1975, khoảng 9 giờ tối, Nguyễn Chơn, tướng VC, đã cùng mấy tên cận vệ đến nhận ông Trần Quốc Dân tại nhà giam rồi dẫn ông ra khỏi trại. Đến sáng hôm sau, người ta phát hiện ông Trần Quốc Dân đã chết, xác ông được bỏ vào Nhà Vĩnh Biệt của Quân Y Viện Duy Tân, Đà Nẵng ; và trên thân thể của ông có nhiều vết đạn. Ai cũng hiểu rằng những vết đạn ấy là do chính Nguyễn Chơn đã bắn chết ông Trần Quốc Dân.

    Điều đáng nói không phải là chuyện Nguyễn Chơn xử tử ông Trần Quốc Dân, bởi Chơn là cộng sản thì giết người là chuyện bình thường. Mà điều đáng phải lên án là cái « Lực lượng Hòa hợp- Hòa giải Phật giáo », đã theo lệnh của Việt cộng là phải bắt ông Trần Quốc Dân giam trong chùa Pháp Lâm từ ngày 24/03/1975 , để chờ giao cho Nguyễn Chơn để xử bắn. Ngoại trừ cộng sản, không ai có thể chấp nhận được những việc làm tàn ác này của Phật giáo Ấn Quang. Bởi, nếu Phật giáo không sai Thích Như Ký và Huỳnh Phổ Chánh đại diện Phật giáo QN-ĐN, đến bắt ông Trần Quốc Dân đem giam tại chùa rồi đem nộp mạng cho Nguyễn Chơn, trong lúc ông sữa soạn đưa vợ con di tản, thì biết đâu có thể ông đã ra hải ngoại, hoặc vào tù cải tạo, hay chết trong tù chứ không chết một cách tức tưởi như thế !!!

    Sau khi ông Trần Quốc Dân đã chết bọn VC đã xông vào nhà ông dùng bạo lực đuổi vợ con ông ra khỏi nhà. Vợ ông chỉ được ôm mấy bộ áo quần và dắt hai đứa con thơ về nương tựa với mẫu thân tại chợ Tân Lập, Đà Nẵng.

    (còn tiếp)

    HÀN GIANG TRẦN LỆ TUYỀN

    Like

  7. Lu Hà- Đôi Dòng Cảm Nghĩ: Ngày Mai Đi Nhận Xác Chồng.

    Lời bình.
    Cái giá trị và nỗi đau thương, mất mát của người vợ lính chiến Ql.VNCH, đã bị những ai đó? ” Phản chiến ” và sỉ nhục cái chết vinh quang trong trách nhiệm của người lính QL.VNCH. Họ đã nhẫn tâm đem tình yêu thương của người vơ lính làm quyền lợi chính trị… để tôn trọng kẻ thù trong chiến thắng hiện nay. Xin tất cả những người còn chút lương tâm với quê hương , đất nước khổ đau này,!, mà dừng sự phân hóa, đánh phá dân tộc, chỉ làm lợi cho kẻ thú chung của chúng ta.Tình yêu Lính, đâu phải là sự sỉ nhục cái chết của người nằm xuống cho quê hương ,và thân nhân của họ đã cống hiến tổ quốc những người con tuyệt vời cho Bài hát ” Ngày Mai Đi Nhận Xác Chồng “- Tôi đi để thấy mình không là mình…Như thế làm sao ” Phản chiến hay Phản chính trị, cho được??!
    Huỳnh Mai St.8872

    Trần Đĩnh – Đèn Cù Nguyễn Tuấn / 2 ngày ago Originally posted on Văn Tuyển : Trần Đĩnh là người chấp bút Tiểu sử chính thức đầu tiên của Hồ Chí
    Minh, năm 1960; và chấp bút các cuốn tự truyện, hồi ký cho Phạm Hùng, Lê
    Văn Lương… trong đó, nổi tiếng với dân…

    Like

  8. Suy luận của TCN là suy luận của một thằng bé chăn bò, đầu óc tối tăm mà cứ ngỡ mình thông thái lắm. Cái lối suy luận thiển cận và ngu xuẩn này ắt hẳn đã bị chính đảng cs đã hiếp dâm tư tưởng của TCN nên hấn ta mới phát ngôn cuồng ngông như vậy. Tóm lại tôi muốn nói, TCN là sản phẩm của kế hoạch 10 năm trồng người do cái tên dâm dật Hồ chí méng này nặn ra. Chấm hết

    Like

  9. Linh Mục Là Ai? Đó là đầu đề một bài viết trên tiengnoigiaodan.net.Tác giả bài viết này làLinh mục Giuse Vũ Đức ở Detroit.Linh mục thực sự là ai?Ngày nay chúng ta không thiếu gì tài liệu, kể cả tài liệu của những vị đã ở trong nghề Linh mục nhiều chục năm như Joseph McCabe hay Charles Chiniqui.Trước khi đi vào những câu trả lời của Linh Mục Vũ Đức, có lẽ chúng ta cũng nên kể vài nhận xét điển hình về giới Linh mục của một số danh nhân, trí thức trên thế giới.

    Hugo Grotius (1583-1645), Học giả Hòa Lan:Người nào đọc lịch sử giới Linh mục không đọc gì khác ngoài sự gian giảo và điên rồ của các giám mục và linh mục. (He who reads eccleciastical history reads nothing but the roguery and folly of bishops and churhmen.)

    John Milton (1608-1674), Thi sĩ Anh:Công Giáo La Mãlà một tôn giáo không gì hơn làsự chuyên chế của giới linh mục, những người trang bị với những bổng lộc của quyền lực dân sự, với chiêu bài tôn giáo, đã chiếm lấy quyền của Chúa (Romanism is less a religion than a priestly tyranny armed with the spoils of civil power which, on the pretext of religion, it hath seized against the command of Chist himself.)

    Daniel Defoe (1660-1731), Tiểu thuyết gia Anh:Trong tất cả những tai họa mà nhân loại phải chịu đựng, sự độc đoán của giới Linh mục là tệ hại nhất (Of all the plagues with which mankind are cursed, Ecclesiastic tyranny’s the worst.)

    Lady Mary Wortley Montagu (1689-1762), Văn sĩ Anh:Trên khắp thế giới, các linh mục có thể nói láo, và các tín đồ tin, (Priests can lie, and the mob believe, all over the world).

    Đại Văn Hào Voltaire (1694-1778):Lời của Chúa là lời của các linh mục; sự vinh quang của Chúa là sự hãnh diện của các linh mục; ý của Chúa là ý của các linh mục; xúc phạm Chúa là xúc phạm các linh mục; tin vào Chúa là tin vào mọi điều linh mục nói (The word of God is the word of the priests; the glory of god is the pride of the priests; the will of god is the will of the priests; to offend god is to offend the priests; to believe in god is to believe in all that the priests tell us.)

    Edward Gibbon (1737-1794), Sử gia Anh: Đối với cái nhìn triết lý, những thói xấu của các Linh Mục thì ít nguy hại hơn những đức tính của họ rất nhiều (To a philosophic eye, the vices of the clergy are far less dangerous than their virtues.)

    Thomas Jefferson (1743-1826), Tổng Thống Mỹ:Trong mọi quốc gia và trong mọi thời đại, linh mục đều đã thù nghịch đối với tự do.(In every country and in every age, the priest has been hostile to liberty).

    James Madison (1751-1836), Tổng Thống Mỹ: Trong gần 15 thế kỷ, cơ sở hợp pháp của Ki Tô giáo đã được phán xét.Hoa trái của Ki Tô giáo là gì? Ở khắp nơi, không nhiều thì ít, sự lười biếng và hãnh diện của giới Linh mục, sự ngu tối và quỵ lụy của giới tín đồ; sự mê tín, cố chấp và bạo hành trong cả hai giới (During almost 15 centuries has the legal establishment of Christianity been on trial.What has been its fruits?More or less in all places, pride and indolence in the clergy; ignorance and servility in the laity; in both, superstition, bigotry, and persecution.)

    Napoleon Bonaparte (1769-1821), Hoàng đế Pháp:Ở mọi nơi và mọi thời, linh mục đã đưa vào sự gian dối và sai lầm (Priests have everywhen and everywhere introduced fraud and falsehood)

    Arthur Schopenhauer (1788-1860), Triết gia Đức:Công giáo là tôn giáo lên thiên đường bằng cách cầu xin, vì nó quá phiền toái để tự mình đạt được.Linh mục là những kẻ buôn bán thiên đường (The Catholic religion is an order to obtain heaven by begging, because it would be too troublesome to earn it.The priest are the brokers for it)

    Victor Hugo (1802-1885), Văn hào Pháp: Trong mỗi làng đều có một ngọn đuốc soi sáng: người thầy giáo – và một kẻ làm tắt bó đuốc đó: ông linh mục xứ (There is in every village a torch: the schoolmaster – and an extinguisher: the parson.)

    Giuseppe Garibaldi (1807-1882),Nhà lãnh đạo Ý (Người đã tiến quân và thu hẹp lãnh thổ của Công Giáo, chỉ còn lại Vatican ngày nay): Linh mục là hiện thân của sự sai lầm (The priest is the personification of falsehood.)

    Robert G. Ingersoll (1833-1899), Học giả Mỹ:Một thầy giáo giỏi có giá trị bằng1000 linh mục (One good schoolmaster is worth a thousand priests.)

    William E. H. Lecky (1838-1903), Sử gia Ai Nhĩ Lan:Bất cứ khi nào mà giới giáo sĩ, Linh mục Công Giáo hay Mục sư Tin Lành,đứng cạnh thế quyền dân sự, thì kết quả là sự bạo hành (Whenever the clergy were at the elbow of the civil arm, no matter whether they were Catholic or Protestant, persecution is the result.)

    Émile Zola (1840-1902), Văn hào Pháp: Nền văn minh sẽ không đi đến tột đỉnh cho đến khi phiến đá cuối cùng từ cái nhà thờ cuối cùng rơi đè lên tên linh mục cuối cùng (Civilization will not attain to its perfection until the last stone from the last church falls on the last priest.)

    Lẽ dĩ nhiên tôi không có cách nào có thể đưa ra tất cả những tài liệu về “Linh Mục Là Ai” vì lẽ dĩ nhiên là tôi không biết hết, mà chỉ biết có một phần, một phần mà tôi cho là đã quá đủ rồi.Nhìn vào những tin tức trên những diễn đàn thông tin quốc tế về những tội ác tình dục của Linh mục, cũng như đọc một số sách viết về Linh mục bởi các Linh mục, chúng ta có thể dư biết thực chất Linh mục là như thế nào.Tuy nhiên, để giải trí, chúng ta có thể đọc về quan niệm “Linh Mục Là Ai?” của một Linh mục Việt Nam: LM Vũ Đức, và đối chiếu với quan niệm về Linh Mục của Linh mục Ca-na-điên (Canadian) Charles Chiniqui, tác giả cuốn sách nổi tiếng “50 Năm Trong Giáo Hội Rô-Ma” (50 Years In The Church of Rome).Để độc giả nắm rõ vấn đề hơn, thỉnh thoảng tôi xin phép chêm vào vài lời bình luận, ngắn hay dài tùy theo vấn đề.

    Có lẽ đọc Linh mục Vũ Đức chúng ta nên đọc lộn ngược, từ dưới lên trên.Vậy thì trước hết, đây là câu kết trong bài “Linh Mục Là Ai?” của Linh mục Vũ Đức trên tiengnoigiaodan.net:

    “LINH MỤC là ai? Trả lời một cách ngắn gọn và đầy đủ Ngài là CHÚA KITÔ THỨ HAI (Alter Christus) như thế thưa Cha mới [được phong linh mục]: từ nay Cha là Chúa KITÔ.”

    Chắn là các con chiên đọc câu này là thấy vui rồi vì họ luôn luôn được Chúa KITÔ hay ít nhất cũng là CHÚA KITÔ THỨ HAIdạy bảo cho trở thành đúng là con chiên.Là người ngoại đạo nhưng tôi đọc cũng thấy vui, vui đến nỗi phải phá ra cười.Tôi mang câu này đi khoe với một số bạn bè thì ai cũng phá ra cười.Vui thì vui thật nhưng cái đầu óc bệnh hoạn dị giáo của tôi lại có vàithắc mắc, không biết linh mục Vũ Đức hay bất cứ người Công Giáo nào có thể giải đáp được những thắc mắc cho tôi không?

    Trước hết là, CHÚA THỨ NHẤT đã chết cách đây gần 2000 năm rồi VÀ CHƯA BAO GIỜ TRỞ LẠI DÙ ÔNG TA HỨA HẸN VỚI MỘT SỐ TÍN ĐỒ LÀ SẼ TRỞ LẠI NGAY KHI HỌ CÒN SỐNG [Chắc Linh Mục Vũ Đức cũng đã đọc những đoạn này trong Tân Ước? có trích dẫn trong một phần sau], vậy ngày nay chúng ta chỉ còn những CHÚA KITÔ THỨ HAI, rất nhiều CHÚA KITÔ THỨ HAI trên thế giới, đủ mọi quốc tịch, nói đủ thứ tiếng, từ mũi lõ mắt xanh đến da vàng mũi tẹt, từ đen như củ súng đến lờ lờ như dân Da đỏ v…v….Tốt lắm!Vì càng có nhiều CHÚA KITÔ THỨ HAI bao nhiêu càng tốt cho tín đồ Công giáo bấy nhiêu, nhất là tín đồ Công giáo Việt Nam, có phải như vậy không?Linh mục Vũ Đức nói không sai, ít ra là đối với các tín đồ Công Giáo Việt Nam, vì tôi còn nhớ trước đây có ông giám mục ở Việt Nam khuyên các con chiên phàn nàn mấy ông CHÚA KITÔ THỨ HAI làm bậy ở Việt Nam là:“Các con đừng nói hành các Cha mà mang tội với Chúa”

    Nhưng tôi nghĩ đến các CHÚA KITÔ THỨ HAI đã đi hiếp dâm các “sơ của Chúa” trong 23 quốc gia trên thế giới, có nơi còn bắt họ đi phá thai.Linh mục Vũ Đức cũng còn viết: từ nay Cha là Chúa KITÔ.Vậy Chúa nào đi hiếp dâm?Chúa thứ nhất hay Chúa thứ hai hay cùng là một Chúa?Không biết Tam Đoạn Luận sau đây có đúng hay không?

    Người đi hiếp dâm các sơ là Linh Mục.

    Mà Linh Mục là Chúa Ki Tô.

    Vậy thì chính Chúa Ki Tô đã đi hiếp dâm.

    Tôi đặt vấn đề để cho Linh Mục Vũ Đức thấy là ông ta đã viết láo và mạ lị chính Chúa của ông ấy, chứ không phải là tôi cố ý phỉ báng Chúa Ki Tô đâu.Tôi kính trọng Chúa lắm cho nên mới phải vạch ra luận điệu sai lầm của Linh mục Vũ Đức, ngõ hầu cứu vãn lại danh dự và sự vinh quang của Chúa.

    Tôi cũng nghĩ đến hiện nay có 4392 CHÚA KITÔ THỨ HAI đã bị truy tố về tội cưỡng bức tình dục trẻ em và nữ tín đồ.Có nhiều CHÚA KITÔ THỨ HAI đang ngồi tù, vì tất cả vẫn còn mang chức linh mục trên người, và các giáo hội địa phương đã phải bỏ ra từ 2 đến 3 tỷ Mỹ kim để bồi thường cho những nạn nhân tình dục của các CHÚA KITÔ THỨ HAI hay chính là CHÚA KI TÔ.

    Tôi cũng lại nghĩ đến các CHÚA KITÔ THỨ HAI Việt Nam thường gọi các CHÚA KITÔ THỨ HAI Việt Nam khác là “CHA”, và hình như đến Vatican cũng phải quỳ lạy trước mộtCHÚA KITÔ THỨ HAI mũi lõ mắt xanh cao cấp hơn nhưng lại vô đạo đức tôn giáo như Benedict XVI.

    Tại sao lại là vô đạo đức tôn giáo?Vì khi còn là Hồng Y Thiết Giáp Ratzinger, nay là Benedict XVI, ông ta đã đưa ra một nhận định mà không ai có thể cho là có đạo đức tôn giáo, về Phật Giáo như sau: “Buddhism is a sort of auto-erotic spirituality”, và ngay gần đây ông ta đã mượn lời của một ông Vua vùng Byzantine vào thế kỷ 14 để đả kích giáo chủ Hồi Giáo Muhammad là “ác và vô nhân đạo, chủ trương bành trướng tôn giáo bằng bạo lực” (Show me just what Muhammad brought that was new, and there you will find things only evil and inhuman, such as his command to spread by the sword the faith he preached).Thế giới Hồi Giáo lên tiếng phản đối, nhiều kẻ cuồng tín đốt hình nộm của Benedict XVI, ném các túi sơn vào căn nhà nơi sinh của Ratzinger ở Bavaria, đòi Benedict XVI phải đích thân xin lỗi, và dọa sẽ tuyệt giao với Vatican.

    Những hành động vô đạo đức tôn giáo của Benedict XVI thật ra chỉ là những phản ứng vô trí trước sự bành trướng của Phật Giáo và Hồi Giáo trong thế giới Tây Phương.. Nhưng đây là chuyện ngoài đề, cho nên tôi xin phép được bình luận về hành động này của Benedict XVI trong một bài khác.Bây giờ chúng ta hãy lộn lên phần đầu để đọc Linh Mục Vũ Đức trả lời “Linh Mục Là Ai?”:

    LM Việt Nam Vũ Đức:Để trả lời Linh Mục Là Ai? Thì không gì hơn là nhìn thẳng vào Chức Vụ và Bản Thân Linh Mục. “Các con hãy đi khắp thế gian rao giảng tin mừng cho mọi tạo vật ” (Mc 16: 15).

    [Lời bình của TCN:Có vẻ như ông Linh mục Vũ Đức này chỉ nhắc lại những điều đã được học trong Đại Chủng Viện. Theo LM Vũ Đức thì: “Các Đại chủng sinh Thần Học sẽ nhận chức Linh Mục sau khi hoàn tất chương trình giáo dục của chủng viện” nhưng theo LM Charles Chiniqui thì, trang 54:“Học Thần Học trong Giáo hội Công Giáo là học nói láo, học lừa dối, học tự mình phản bội lời thề” (For to study theology in the Church of Rome is to learn to speak falsely, to deceive, to perjure one’s self).Linh Mục Chiniqui nói đúng hay sai?Muốn biết chúng ta hãy đọc ngay Thánh Kinh.Tôi rất buồn vì không lẽ một người ngoại đạo như tôi lại phải lên tiếng dạy Thánh Kinh cho Linh mục Vũ Đức vì chắc chắn là ông ta không được dạy trong chương trình học của ông trong Đại Chủng Viện. Này nhé:

    Thứ nhất, đọc Tân Ước, chúng ta thấy viết rõ ràng trong đó là Giê-su sẽ trở lại trần gian trong một tương lai rất gần, ngay trong thời điểm mà một số tông đồ của Giê-su còn sống.Thí dụ (Trích dẫn từ Thánh Kinh: Cựu Ước Và Tân Ước, Hội Quốc Tế xuất bản, 1994; và Holy Bible: The New King James Version, American Bible Society, New York, 1982):

    Matthew 16: 27-28:“Ta (Con của Người: Giê-su) sẽ trở lại với các thiên sứ trong vinh quang của Cha ta để thưởng phạt mỗi người tùy theo việc họ làm.Ta cho các con biết: một vài người đang đứng đây sẽ còn sống cho đến khi nhìn thấy ta vào trong Nước ta”. (For the Son of Man will come in the glory of His Father with His angels, and then He will reward each according to his works. Assuredly, I say to you, there are some standing here who shall not taste death till they see the Son of Man coming in his kingdom.)

    Matthew 24:34: “Ta quả quyết, thời đại này chưa chấm dứt, các biến cố ấy đã xảy ra rồi” (Assuredly, I say to you, this generation will by no means pass away till all these things are fulfilled)

    Mark 9: 1: Chúa bảo các môn đệ: “Ta cho các con biết, một vài người đang đứng đây sẽ còn sống cho đến khi nhìn thấy nước trời thiết lập với uy quyền vĩ đại” (And He said to them, “Assuredly, I say to you that there are some standing here who will not taste death till they see the kingdom of God present with power.”)

    Mark 13:30:“Ta quả quyết, thế hệ này chưa qua đi thì các biến cố đó (các biến cố xung quanh sự trở lại của Giê-su. TCN) đã xảy ra rồi”. (Assuredly, I say to you, this generation will by no means pass away till all these things take place.)

    Luke 21: 27, 32: “Bấy giờ nhân loại sẽ thấy ta giáng xuống trong mây trời với vinh quang và uy quyền tuyệt đối.. Ta quả quyết: thế hệ này chưa qua, các biến cố ấy đã xảy ra rồi”. (Then they will seethe Son of Man coming in a cloud with power and great glory.. Assuredly, I say to you, this generation will by no means pass away till all these things are fulfilled.)

    John 14: 3: “Ta đi chuẩn bị chỗ ở cho các con.Khi chuẩn bị xong, ta sẽ trở lại đón các con về với ta để các con ở cùng ta mãi mãi.” (And if I go and prepare a place for you, I will come again and receive you to myself; that where I am, there you may be also).

    Qua những đoạn trích dẫn ở trên từ Thánh Kinh, chúng ta hãy tự hỏi: Giê-su tin rằng ngày tận thế đã gần kề và ông ta sẽ trở lại trong vinh quang ngay khi một số tín đồ của ông còn sống.Vậy ông bảo “Các con hãy đi khắp thế gian rao giảng tin mừng cho mọi tạo vật” để làm gì?Vả chăng trong thời Giê-su không làm gì có các Linh mục.

    Thứ nhì, Giáo hội dựa vào câu “Các con hãy đi khắp thế gian rao giảng tin mừng cho mọi tạo vật ” (Mc 16: 15) mà Linh mục Vũ Đức trích dẫn từ Tân Ước như trên để thi hành sách lược truyền đạo bằng bạo lực và cưỡng bách trên khắp thế giới.Chính Giáo Hoàng Benedict XVI trong chuyến hồi hương gây sóng gió với Hồi Giáo cũng nhắc đến câu này để khuyên tín đồ phải đi “rửa” (baptize) cho khắp mọi người trên thế giới.Cùng một lò giáo dục mà ra, Linh mục Vũ Đức ngày nay vẫn còn tiếp tục trích dẫn từ Tân Ước những câu bịa đặt hoàn toàn vô nghĩa như ở trên.Tại sao?

    Vì câu trongTân Ước ở trên không phải là câu Giê-su nói khi còn sống, mà là nói khi đã chết rồi, và theo nền Thần học Công Giáo thì, đã sống lại sau ba ngày ba đêm (nhưng thực ra chỉ có hơn một ngày và 2 đêm : từ 3 giờ chiều thứ Sáu đến sáng sớm Chủ Nhật), và hiện ra trước một số tông đồ, truyền lệnh cho họ đi khắp thế gian truyền đạo, nếu chúng ta có thể tin được chuyện “sống lại” đầy tính cách hoang đường này.Ngày nay, ngoài đám tín đồ thấp kém, không còn ai, ở trong cũng như ở ngoài giáo hội, tin vào chuyện “sống lại” của một xác chết.Các nhà Thần học đã tìm cách giải thích khác đi sự “sống lại” (resurrection) của Giê-su và gọi đó là sự sống lại của tinh thần (spiritual resurrection).

    Còn nữa, tất cả các chuyên gia nghiên cứu Thánh Kinh ngày nay đã cho rằng câu mà giáo hội đặt vào miệng Giê-su sau khi ông ta đã chết là do chính giáo hội thêm thắt vào Tân Ước sau này để thực hiện âm mưu bành trướng đạo với mục đích chính yếu là tạo quyền lực trên đám dân ngu dốt và vơ vét của cải thế gian.Chúng ta chỉ cần nhìn vào tâm cảnh nô lệ Vatican của các tín đồ và tài sản của giáo hội trên khắp thế giới là thấy ngay nhận định như trên của các học giả không phải là vô căn cứ.

    Sau cùng, ngay trong Tân Ước cũng có nhiều điều trái ngược hẳn với tinh thần của câu ngụy tạo trên.Chứng minh?

    Thứ nhất, tín đồ Ki Tô Giáo nói chung tin rằng Thánh Kinh là những lời mạc khải không thể sai lầm của Chúa, Chúa Cha cũng như Chúa Con.Thánh Kinh viết rằng trái đất phẳng và dẹt, đứng yên một chỗ, ở trên có một vòm trời bằng đồng thau v..v..Vậy, ngay cả Chúa Cha cũng không biết là quả đất tròn và cho đến thế kỷ thứ 4, Thánh Augustine, bậc Thánh của Công Giáo được coi là ông tổ của nền Thần học Đức Tin Công giáo, có trí tuệ siêu việt v..v.. cũng còn không quan niệm nổi một trái đất có hình cầu qua lời phát biểu: “Không thể nào có chuyện có người ở phía bên kia của trái đất, vì Thánh Kinh không ghi lại bất cứ một giống người nào như vậy trong các hậu duệ của Adam” (It is impossible there should be inhabitants on the opposite side of the earth, since no such race is recorded by Scripture among the descendants of Adam). Vậy, trước đó gần 400 năm, Giê-su bảo các tông đồ đi đến “khắp thế gian” thì đó là thế gian nào, những quốc gia nào trong thế gian đó?Hiển nhiên đó không phải là những quốc gia ở phía bên kia của mộttrái đất hình cầu, trong đó có Việt Nam, mà chỉ là những quốc gia giới hạn trong tầm nhìn của Giê-su, nghĩa là không ra ngoài những quốc gia trong miền Trung Đông. Điều này thật là rõ ràng khi chúng ta đọc nhận định sau đây của giáo sư thần học Uta Ranke-Heinemann trong cuốn Hãy Dẹp Đi Những Chuyện Trẻ Con (Putting Away Childish Things), trang 215:

    Giê-su không hề có ý định thành lập một “giáo hội”, nhất lại là một “giáo hội phổ quát”.Thí dụ chân thực về quan điểm của Giê-su, chúng ta hãy xét đoạn văn trong Tân Ước, Matthew 10: 5-6, nội dung đối ngược hẳn với nhiệm vụ truyền giáo trên thế giới: Mười hai tông đồ Giê-su phái đi để truyền đạo với lời dặn dò: “Không được đi đến nơi nào có dân Gentiles, và không được vào thành phố nào của dân Samaritan, mà chỉ đi đến những con dân Do Thái bị lạc” (nghĩa là chỉ đi rao truyền đạo Chúa trong dân Do Thái mà thôi.Và câu tiếp theo trong Tân Ước, Matthew 10:7 là “Trong khi đi hãy rao truyền tin Nước Trời đã gần đến rồi”. TCN).Hai đoạn kháctrong Matthew là 15:24: “Ta được phái xuống trần chỉ để cứu đàn chiên Do Thái bị lạc mà thôi”, và 10: 23: “Ta bảo đảm với các ngươi, các ngươi chưa đi hết các thành phố của Do Thái thì Con của Người (nghĩa là Ta: Giê-su) đã đến rồi”.

    Chính Giê-su – và ngày nay mọi nhà thần học đều biết vậy – tin rằng Nước Chúa sắp tới.Điều này đối ngược với nhiệm vụ truyền bá đạo một cách đại qui mô trên thế giới.

    [Jesus has no intention of founding a “church” and certainly not a “church universal.”For an authentic example of Jesus’ view, consider Matt 10:5-6, which expresses the exact opposite of a universal commission: “These twelve Jesus sent out, charging them, “Go nowhere among the Gentiles, and enter no town of the Samaritans, but go rather to the lost sheep of the house of Israel.”Two further authentic passages are Matt 15:24, “I was sent only to the lost sheep of the house of Israel,” and Matt. 10:23, “You will not have gone through all the towns of Israel, before the Son of Man comes.”…Jesus himself – and all theologians have by now acknowleged this – believed that the Kingdom of God would be coming soon.But that is the opposite of a world mission in the grand style.]

    Vậy chuyện Chúa phán sau khi chết “Các con hãy đi khắp thế gian rao giảng tin mừng cho mọi tạo vật ” thực chất chỉ là một chuyện bịp, một chuyện trẻ con, nhưng LM Vũ Đức đã lấy đó làm nhiệm vụ cao cả của chức vụ Linh mục.Câu trên cũng còn vô nghĩa, vì mọi tạo vật đâu có phải là chỉ riêng có con người.Trên thế giới ngày nay có cả tỷ tỷ (trillions) sâu bọ, nhiều hơn giống người rất nhiều, vậy Linh mục Vũ Đức hãy đi làm nhiệm vụ cao cả của Linh mục là đi ra giảng tin mừng cho đám sâu bọ này trước có phải tốt hơn là rao giảng cho số người nhỏ nhoi trên trái đất này hay không, nhất là trong số này, đa số lại không muốn nghe những lời rao giảng tin mừng đó đã từ 2000 năm nay rồi?

    Nhưng thực chất chức Linh mục và nhiệm vụ cao cả của Linh mục là như thế nào ?Linh mục Vũ Đức viết:

    Trong Giáo Hội Linh Mục được kêu mời và tuyển chọn để nối dài sự hiện diện của Chúa Kitô và chu toàn sứ mạng đã nhận trong Giáo Hội bởi sự đặt tay của Giám Mục trong thánh lễ phong chức .. để chuyển ban Thần Khí của Thiên Chúa. Được Chúa kêu mời và tuyển chọn nên Linh Mục phải là người của Chúa, trọn vẹn thuộc về Chúa và phải làm việc cho Chúa. Nói cách khác ưu tư số một của Chúa là việc tuyển chọn các Linh Mục để từ đó Linh Mục làm cho người ta suy nghĩ về Chúa và tìm gặp Ngài.

    Do đó Linh Mục có bổn phận phải thông truyền chân lý Phúc Âm nên khi sống đời Linh Mục là ngài thi hành việc giảng dậy để loan truyền giáo thuyết của Giáo Hội, là giảng lời Chúa, là mời mọi người tin và nhận lãnh ơn cứu rỗi, qua bí tích để cải thiện và nên thánh, điều này được lưu ý đặc biệt trong phần phụng vụ Lời Chúa khi cử hành phép Thánh Thể. Như vậy trong phụng vụ nhờ bàn tay Linh Mục, phép Rửa đưa người ta về với Chúa, Bí Tích Cáo Giải làm hòa tội nhân với Thiên Chúa, Bí Tích Xức Dầu xoa dịu nỗi đau của người bệnh…

    Thứ nhất, ai có thể biết ưu tư của Chúa là như thế nào?Ngô Triệu Lịch đã viết rõ nền thần học Ki Tô Giáo chỉ là nền thần học đoán mò, vì hai trong những thuộc tính mà giáo hội Công giáo gán cho Thiên Chúa của họ là “không thể hiểu được” (incomprehensible), và “vô hình” (invisible). Vậy nói về ưu tư của một đấng không ai thấy được, không ai hiểu được, chẳng là đoán mò thì là gì?Linh mục Vũ Đức đã coi sự đoán mò của giáo hộilàm thật và lấy sự đoán mò đó để uốn nắn đầu óc các con chiên vốn không có đầu óc. Hơn nữa Chúa chết đã gần 2000 năm nay rồi và chưa bao giờ trở lại, cho nên nói là Chúa tuyển chọn Linh Mục cũng lại là nói láo, đúng như Linh Mục Chiniqui đã nhận định.Vì số người vào nghề Linh mục càng ngày càng ít, cho nên “Chúa”, thật ra chỉ là “Giáo hội”, đã càng ngày càng phải hạ tiêu chuẩn, trình độ của những người muốn vào nghề linh mục, và ngày nay, hầu hết những người vào nghề này là để dễ kiếm ăn chứ chẳng phải là vì ơn kêu gọi như chính Giáo hoàng Benedict XVI đã than phiền như vậy. Bây giờ chúng ta hãy đọc Linh mục Charles Chiniqui viết về vài vấn đề liên quan đến chức Linh mục, trong cuốn “50 Years In The Church of Rome”, Chương XVII:
    Linh Mục Ca-na-điên Charles Chiniqui:

    Tôi được phong chức Linh mục tại nhà thờ Québec, bởi Tổng Giám mục Signaie ở Canada.Cái người đại diện của giáo hoàng này, bằng cách đặt tay lên đầu tôi, đã ban cho tôi quyền năng biến một mẩu bánh thành ra máu, thịt, linh hồn thực sự với thần tính của Chúa Ki Tô Giê-su. Giáo hội không thể sai lầm của tôi đã đặt tôi không chỉ ngang hàng với đấng cứu rỗi của tôi và Thiên Chúa, mà thực ra còn trên cả ông ta.Từ nay về sau tôi không chỉ ra lệnh cho Chúa mà còn tạo ra Chúa nữa. [Hereafter I would not only command, but create Him]

    Tại sao Linh mục Chiniqui lại viết là Từ nay về sau tôi không chỉ ra lệnh cho Chúa mà còn tạo ra Chúa nữa? Muốn hiểu điều này chúng ta cần phải biết về những thủ đoạn lừa bịp mê hoặc tín đồ của Công Giáo: đó là những cái gọi là “bí tích” hay “nhiệm tích” mà giáo hội Công Giáo dạy tín đồ là do chính Chúa Jesus đặt ra.Tín đồ Công Giáo cứ nghe tới Chúa Jesus là tâm thần mê mẩn nên giáo hội mang bất cứ cái gì giáo hội bày đặt ra, bảo đó là của Chúa, là tín đồ cứ nhắm mắt mà tin, vì giáo hội dạy không tin thì không được lên thiên đường sống đời sống đời đời cùng Chúa.Ngoài cái gọi là “bí tích” truyền chức Linh mục, Công Giáo còn 6 “bí tích” khác, và trong các “bí tích” này, Linh mục thường ra lệnh cho ngôi ba Thiên Chúa, cũng là ngôi nhất (Chúa Cha), cũng là ngôi nhì (Jesus), đang ở đâu không biết, phải về ngay để vào ngự trị trong người đang được hưởng các “bí tích” này. Linh mục Chiniqui cũng đã viết như trên là sau khi thụ phong chức Linh mục, ông ta có quyền năng tạo ra Chúa từ một mẩu bánh bằng bột.Vấn đề đặt ra làcác Linh mục thực sự có những quyền năng ra lệnh cho Chúa hay làm ra Chúa hay không?Chúng ta cần đọc tiếp Linh Mục Chiniqui viết về “bí tích” mà Linh mục Vũ Đức viết về “phụng vụ Lời Chúa khi cử hành phép Thánh Thể” [Phép Thánh Thể là “bí tích” cho tín đồ ăn bánh thánh, bảo đó là thân thể, máu huyết thực sự của Chúa Jesus], trong những trang 37-39:

    Phép ban Thánh Thể đầu tiên [The first communion] là để cho những đứa trẻ thường là tuổi từ 8 đến 12 trong những gia đình Công Giáo.Lễ này được sửa soạn kỹ và rất long trọng, trẻ con được mặc quần áo đẹp và tặng quà cáp trong cuộc lễ này.Nhưng thực chất của “bí tích” này ra sao?Linh mục Chiniqui mô tả lễ Thánh Thể đầu tiên của ông như sau:

    Đối với một đứa trẻ Công Giáo, lễ ban Thánh Thể đầu tiên này đẹp đẽ và cũng đáng buồn biết bao.Với sự vui mừng lo lắng lần đầu tiên được ăn cái mà nó được dạy là Thiên Chúa của nó: toàn thể thân thể của Chúa.Tôi phải tin như vậy nếu không sẽ bị quẳng xuống hỏa ngục vĩnh viễn.Nhưng bao giờ cũng vậy, mắt tôi, tay tôi, miệng tôi, lưỡi tôi, lý trí của tôi đều bảo tôi rằng tôi chỉ ăn một mẩu bánh.Tôi có phải nói là tôi tin điều này không?Tôi đã tin như mọi người Công Giáo lành thiện đã tin. Tôi đã tin nó như là một xác chết tin.Đó là tình trạng của tôi trong ngày lễ ban Thánh Thể đầu tiên của tôi. Hai cảm giác xung đột trong đầu óc tôi. Tôi hân hoan vì sẽ được Chúa Jesus tràn đầy trong người, nhưng cùng lúc tôi cảm thấy bị sỉ nhục bởi sự vô nghĩa của nó. Mới có 12 tuổi nhưng tôi đã có thói quen tin ở cặp mắt của tôi.Tôi nghĩ rằng tôi có thể phân biệt rõ ràng giữa một mẩu bánh nhỏ và một người lớn.

    Hơn nữa, tôi cảm thấy ghê tởm cùng cực ý nghĩ phải ăn thịt và uống máu người, dù rằng tôi được bảo đảm rằng đó chính là thịt và máu của Chúa Jesus.Nhưng điều làm tôi không yên tâm nhất là Thiên Chúa, quá vĩ đại, quá vinh quang, quá thánh thiện, lại có thể ăn bởi tôi như là ăn miếng bánh thường.

    Đứa trẻ há miệng, và ông Linh mục đặt trên lưỡi nó một miếng bánh mỏng, có thể dính trên mái ngói hoặc tan trong miệng, rồi trôi xuống bụng cũng như những thức ăn mà nó ăn ngày ba bữa. Cảm giác đầu tiên của đứa trẻ là kinh ngạc khi nghĩ rằng đấng sáng tạo ra trời và đất, đấng giữ gìn vũ trụ, đấng Cứu Thế , lại có thể trôi dễ dàng xuống cổ họng.

    Bây giờ hãy theo những đứa trẻ đó về nhà chúng sau cái màn hài kịch kỳ quái gớm ghiếc đó.Hãy quan sát những hành động và chuyện trò giữa chúng ngay sau khi chịu lễ ban Thánh Thể và cho tôi biết là quý vị có nghĩ rằng chúng thực sự tin vào cái tín lý khủng khiếp mà chúng đã được dạy đó. Không, chúng sẽ không bao giờ tin được trong một đức tin mà có kèm theo sự thông minh.Đứa trẻ đáng thương nghĩ rằng nó tin, và hắn thành thực cố tin như vậy.Hắn tin nhưnhững người Công Giáo tin.Hắn tin như một kẻ ngu xuẩn tin.”

    (For the Roman Catholic child, how beautiful yet sad in his first communion.With joy and anxiety he is about to eat for the first time what he has been taught to believe to be his God: His whole body.I had to believe this or be cast forever into hell.Yet all the time, my eyes, my hands, my mouth, my tongue, my reason told me that I was eating only bread.Shall I say that I believe this? I believe like all good Roman Catholics believe.I believe as a corpse..Such was my condition on the day of my first communion.To feeling were at war in my mind.I rejoiced that I would soon have full possession of Jesus Christ.At the same time I was humbled by the absurdity of it..Though scarcely twelve I had been in the habit of trusting my eyes.I thought that I could easily distinguish between a small piece of bread and a full grown man.

    Besides, I extremely abhorred the idea of eating human flesh and drinking human blood, even when assured that they were the flesh and blood of Jesus Christ himself.But what troubled me most was the idea that God, so great, so glorious, so holy, could be eaten by me like common bread…

    The child opens his mouth, and the priest puts upon his tongue a flat, thin cake of unleavened bread, which either firmly sticks to his palate or melts in his mouth, soon to go down into his stomach just like the food he takes three times a day.

    The first feeling of the child, then, is surprise at the thought that the Creator of heaven and earth, the upholder of the universe, the Saviours of the world, could so easily pass down his throat…

    Now, follow those children to their homes after that great and monstruous comedy. Notice the lightnes of their actions and conversation immediately after their communion and tell me if you think they believed in the terrible dogma they have been taught.

    NO, and they will never believe it with the firmness of faith accompanied by intelligence.The poor child thinks he believes, and he sincerely tries to do so.He believes as Roman Catholics believe.He believes as an idiot believes.)

    Trong cuốn Đức Tin Công Giáo, Giao Điểm xuất bản năm 2000, trong Chương III, tôi đã phân tích và bình luận về thực chất đào tạo các linh mục và tất cả 7 “bí tích” trong Công Giáo, dựa trên khá nhiều tài liệu của các học giả Tây phương, thí dụ như giám mục John Shelby Spong, các linh mục Công Giáo như James Kavanaugh, Joseph McCabe, Emmett McLoughlin, Georges Las Vergnas, nhà nữ thần học nổi tiếng Uta Ranke-Heinemann, các học giả Công giáo Joseph L. Daleiden, Henri Guillemin v..v..Quý độc giả nào muốn hiểu rõ thêm về thực chất chương trình đào tạo linh mục cũng như thực chất những bí tích trong Công Giáo được bày đặt ra với mục đích gì, có thể tìm đọc những tài liệu trong cuốn khảo luận này.

    Nói một cách ngắn gọn, những điều linh mục Vũ Đức viết về “Linh mục là ai?” chẳng qua chỉ là nhắc lại những điều giáo hội đã dạy và mục đích không ngoài việc tự phong những tư cách thần thánh, tạo quyền lực để ngự trị trên đám tín đồ thấp kém.Cảnh các giáo dân Việt Nam khúm núm trước các bề trên ra sao có thể cho chúng ta thấy sự thành công của giáo hội Công giáo trong chính sách ngu dân, nhồi sọ tín đồ là như thế nào.Những tín đồ thấp kém không hề biết là vì bị nhồi sọ từ nhỏ nên mình đã bị kéo vào một nhà tù tâm linh để cho một số người đạo đức giả chăn dắt như những con cừu con chiên.Không ai biết rõ tình trạng này bằng Linh mục Chiniqui.Ông ta viết, trang 25:

    Tôi biết rằng, chỉ có một quan niệm giữa những người như chúng tôi về các linh mục.Tôi vui mừng vì quan niệm này là quan niệm của giới có học ở Pháp và Gia Nã Đại – không phải, ở trên toàn thế giới. Sự ngự trị của giới linh mục là sự ngự trị của sự ngu dốt, sự đồi bại, và sự phi luân trắng trợn, dưới cái mặt nạ đạo đức giả tinh vi nhất. Đó là sự ngự trị của sự chuyên chế – sự mất đi tự do.

    (There is, I know, only one opinion among us on the subject of priests.I am glad that this opinion is held by all educated men in Canada and France – nay, of the whole world.The reign of the priest is the reign of ignorance, corruption, and the most barefaced immorality, under the mask of the most refined hypocrisy.It is the reign of tyranny – the loss of liberty)

    Vì tất cả những điều linh mục Vũ Đức để trả lời câu hỏi “Linh mục là ai?” thuộc sách lược tự phong vai trò cao quý của linh mục để ngự trị trên đám con chiên thấp kém cho nên tôi không có gì cần phải bàn thêm.Tuy nhiên, trong mục đích giải hoặc Ki Tô Giáo và giúp cho người dân khỏi bị lùa vào định chế Công Giáo vì tin vào những lời viết láo của Linh mục Vũ Đức, và đồng thời với hi vọng có thể mở mắt Linh mục Vũ Đức ra phần nào, nếu ông ta có dịp đọc bài này, hay có người nào tốt bụng gửi cho ông ta đọc, tôi xin trích dẫn vài đoạn trong một bài viết trước đây về “Bánh Thánh” đã được đăng trên giaodiem.com trước đây.

    Linh Mục Ca-na-điên Charles Chiquini:

    “Ngày hôm sau [ngày được phong chức Linh mục] tôi được làm chủ cái lễ Misa đầu tiên trong đời tôi, và thực hiện cái phép lạ bất khả so sánh mà giáo hội Rô-ma gọi là BIẾN THỂ. Trước khi trời sáng lâu tôi đã quần án sẵn sàng và quỳ cầu nguyện.Đây là ngày thánh thiện và vinh quang nhất trong đời tôi!Ngày hôm trước, được nâng lên một chức vị vĩ đại, ngày hôm nay, lần đầu tiên, tôi thực hiện một phép lạ nơi bàn thờ Chúa mà không thiên thần hay thiên thần tổng quản nào có thể làm được.

    Nhờ có hàng tá lần tập tành trong tuần trước và nhờ sự chỉ dẫn của những người bạn tốt, tôi làm lễ một cách suông sẻ hơn là tôi mong đợi.Cuộc lễ lâu khoảng một tiếng đồng hồ. Nhưng khi cuộc lễ chấm dứt, tôi cảm thấy thật mệt lả vì đã cố gắng giữ cho đầu óc và tim tôi hòa điệu với sự vĩ đại vô cùng tận của những huyền nhiệm mà tôi đã hoàn thành.

    Tự bắt mình phải tin rằng mình có thể biến đổi một mẩu bánh thành Thiên Chúa đòi hỏi một cố gắng siêu đẳng về ý chí, và sự hủy diệt hoàn toàn khả năng hiểu biết, đến độ là, sau sự cố gắng đó, trạng thái linh hồn giống như là chết hơn là sống.

    Tôi đã từng tự thuyết phục là tôi đã làm một việc thánh thiện và siêu phàm nhất trong cuộc đời của tôi trong khi, thực ra tôi đã mang tội có tính cách xúc phạm nhất là thờ hình tượng.Mắt tôi, tay và môi tôi, miệng và lưỡi tôi, tất cả mọi giác quan và khả năng hiểu biết của tôi đều nói với tôi rằng cái mà tôi thấy, cầm trong tay và ăn, không gì khác hơn là một mẩu bánh, nhưng những tiếng nói của giáo hoàng và giáo hội của ông ta lại bảo tôi rằng đó chính là thân thể, máu, linh hồn, và thần tính thực sự của Giê-su Ki Tô.Tôi đã từng tự thuyết phục là tiếng nói của những giác quan và của khả năng hiểu biếtcủa tôi là tiếng nói của Satan, và tiếng nói dối trá của giáo hoàng là tiếng nói của Thượng đế của Chân lý.Hàng ngày trong cuộc đời của mình, mọi linh mục của giáo hội Rô Ma đều phải đối diện với sự lầm lạc điên rồ kỳ lạ đó, nếu muốn tiếp tục làm linh mục của giáo hội Rô Ma.”

    (The next day I was to say my first Mass, and work that incomparable miracle which the Church of Rome calls TRANSUBSTANTIATION.Long before dawn I was dressed and on my knees.This was to be the most holy and glorious day of my life!Raised the day before to great dignity, I was now, for the first time, to work a miracle at the altar which no angel or seraph could do…

    Thanks to a dozen exercises the previous week, and to the kind friends who guided me, I went through the performances much more easily than I expected.It lasted about an hour.But when it was over, I was really exhausted by the effort made to keep my mind and heart in unison with the infitite greatness of the mysteries accomplished by me.

    To make one’s self believe that he can convert a piece of bread into God requires such a supreme effort of the will, and complete annihilation of intelligence, that the state of the soul, after the effort is over, is more like death than alive.

    I had persuaded myself that I had done the most holy and sublime action of my life, when, in fact I had been guilty of the most outrageous act of idolatry!My eyes, my hands and lips, my mouth and tongue, and all my senses and intelligence, were telling me that what I had seen, touched, eaten, was nothing but a wafer; but the voices of the pope and his Church were telling me that it was the real body, blood, soul and divinity of Jesus Christ.I had persuaded myself that the voices of my senses and intelligence were the voices of Satan, and that the deceitful voice of the pope was the voice of the God of Truth!Every priest of Rome must come to that strange folly and perversity, every day of his life, to remain a priest of Rome.)

    Cuốn 50 Năm Trong Giáo Hội Rô-Ma dày366 trang của Linh mục Charles Chiniqui cho chúng ta biết khá nhiều về Giáo hội Công Giáo, đặc biệt là nền thần học Công giáo do giáo hội dựng ra, cướp quyền Chúa, để tạo ra quyền hành cho giáo hoàng và cho giới chăn chiên như tổng giám mục, giám mục, linh mục ngự trị trên đám tín đồ thấp kém ở dưới.Theo Linh mục Chiniqui, định chế Công giáo (the Catholic institution) là một định chế trong đó giáo dân chỉ là một đám nô lệ, phải tuân phục vô điều kiện giáo hoàng và các bề trên (submission without any condition).Điều này không xa lạ gì với giáo dân Việt Nam, vì gần đây ở Việt Nam đã chẳng có một linh mục than về giáo hội công giáo Việt Nam là “Tòa Thánh có đánh rắm cũng khen thơm” hay sao?

    Nhưng một trong những điều làm cho Linh mục Chiniqui tỉnh ngộ sau bao nhiêu năm ở trong giáo hội Rô Ma là câu chuyện ông kể trong chương XXXIII, từ trang 151 đến trang 154, với đầu đề Thiên Chúa của Rô-Ma Bị Chuột Ăn (The God of Rome Eaten by Rats).Câu chuyện này sẽ cho chúng ta thấy thực chất của cái gọi là “bánh thánh”, và do đó, ý nghĩa thực sự của tín điều “biến thể” trong Công giáo cũng như trong Tin Lành.Chuyện có thể tóm tắt như sau:

    * * *

    Có một linh mục già tên là Daule, đã về hưu, và mù, trú ngụ ở “La Jeune Lorette”, Quebec, Canada.Những giáo xứ trong vùng Quebec thay phiên nhau giúp đỡ ông ta.Theo nguyên tắc, linh mục mù không được phép làm lễ.Nhưng vì linh mục Daule là người rất sùng tín nên giáo hoàng đặc biệt cho phép ông ta làm chủ một lễ ngắn về Đức mẹ Đồng Trinh (celebrating the short mass of the Virgin) mà ông ta đã thuộc lòng.

    Một buổi sáng, người linh mục già đang sửa soạn làm lễ, và tôi (linh mục Chiniqui) đang nghe một giáo dân xưng tội.Bỗng nhiên một em phụ tế đến gọi tôi: “Cha Daule gọi Cha, xin Cha đến ngay.” Sợ rằng có chuyện gì xảy ra cho người bạn già, tôi vội chạy tới ông ta.Tôi thấy ông ta đang bồn chồn, tay mò mẫm trên bàn thờ như tìm kiếm một cái gì rất quý báu.Tôi tới gần và hỏi: “Cha muốn gì vậy?”Ông ta trả lời: “Chúa lòng lànhđã biến mất trên bàn thờ.Người đi đâu mất rồi” (The good God has disappeared from the altar.He is lost).Cho rằng ông ta đã vô ý đánh rơi “Chúa lòng lành” (Le bon Dieu) xuống sàn, chúng tôi tìm kiếm thật kỹ nhưng không thấy.

    Nhớ lại hàng ngàn phép lạ mà tôi đã đọc về sự biến mất và biến đổi hình dạng của cái “bánh mà là Chúa” (wafer God), tôi cho rằng chúng tôi đang đứng trước một phép lạ vĩ đại nào đó.Nhưng tôi đổi ý nghĩ ngay.Nhà thờ ở Beauport có những con chuột bạo dạn và hỗn hào nhất tôi chưa từng thấy.Đã nhiều lần, khi làm lễ, tôi trông thấy chúng thập thò, quyến rũ bởi mùi bánh mới, muốn ăn sáng với thân thể, máu, linh hồn, và thần tính của Chúa tôi. (…attracted by the smell of the fresh wafer, wanted to make their breakfast with the body, blood, soul, and divinity of my Christ).Nhưng vì tôi luôn luôn chuyển động, hoặc to tiếng cầu nguyện, nên chúng sợ hãi chạy trở về hang của chúng.

    Linh mục Daule thành thực tin điều mà tất cả các linh mục của giáo hội Rô-ma tin, rằng ông ta có khả năng biến mẩu bánh thành Chúa.Tôi ghé vào tai ông hỏi:“Có phải là Cha thường đứng yên một lúc lâu sau khi thánh hóa mẩu bánh, để tôn trọng “Chúa lòng lành?””Ông ta trả lời: “Đúng vậy!Nhưng điều này có liên quan gì đến chuyện “Chúa lòng lành” biến mất?”Tôi trả lời: “ Chuột đã tha đi và ăn “Chúa lòng lành” đấy” (Some rats have dragged away and eaten the good God.”

    Cha Daule hỏi: “Cha nói gì vậy? Chuột đã tha đi và ăn mất “Chúa lòng lành” rồi?

    Tôi trả lời: “Đúng vậy.Con không còn nghi ngờ gì nữa.”

    Ông linh mục già giơ hai tay và ngẩng mặt lên trời than: “Lạy Chúa tôi! Lạy Chúa tôi! Thật là một điều bất hạnh khủng khiếp giáng lên đầu tôi!” (My God! My God! What a dreadful calamity upon me!)Ông ta không còn nói lên lời nữa; giọng nói nghẹn ngào qua những tiếng nấc.Người linh mục già khóc như một đứa trẻ con. (The old priest was weeping as a child).Ông ta hỏi tôi qua những tiếng nấc: “Bây giờ tôi phải làm gì?”.Tôi trả lời: “Giáo hội đã tiên liệu những trường hợp như vậy.Điều duy nhất Cha làm bây giờ là lấy một cái bánh mới, thánh hóa nó, và coi như không có chuyện gì xảy ra.Con sẽ đi lấy cho Cha một cái bánh mới.”[Trong Công Giáo, Cha trẻ gọi Cha già là Cha và xưng con; Cha già cũng gọi Cha trẻ là Cha và xưng con, nghe cứ loạn xì ngầu, tuy rằng Chúa Giê-su đã cấm không được gọi ai là Cha trên cõi đời này vì chỉ có một Cha trên trời. TCN].

    Tôi bèn đi lấy cho ông ta một cái bánh mới, và ông thánh hóa cái bánh đó, và hoàn tất buổi lễ như tôi đã bảo ông.

    Tôi hi vọng với sự hiểu biết thông thường về những lời của tôi nói với ông sẽ làm ông an tâm, nhưng tôi đã lầm.Sau buổi lễ, ông tiếp tục than vãn về điều bất hạnh đã xảy ra cho ông.Sau cùng, tôi không còn đủ kiên nhẫn nữa và nói: “Cha Daule thân quý của con!Thiên Chúa vĩ đại và công bằng của chúng ta không thể ưa thích sự đau buồn và hối hận quá độ của Cha vì một chuyện thật ra là hoàn toàn thuộc quyền năng kiểm soát và sự sáng suốt vĩnh hằng của Thiên Chúa… Chúng ta hãy nhìn sự kiện trên trong ánh sáng đúng của nó.Nó không tùy thuộc vào ý muốn của chúng ta.Thiên Chúa của chúng ta là bậc duy nhất có thể tiên đoán điều gì sẽ xảy ra và ngăn chận nó. Và, con xin nói thẳng với Cha, nếu con là Thiên Chúa toàn năng, và một con chuột khốn nạn đến ăn con, thì con sẽ đánh nó chết ngay trước khi nó có thể đụng đến con.” (My dear Father Daule! Our great and just God cannot like an excess of sorrow and regret about a thing which was only, and entirely, under the control of His power and eternal wisdom… Let us look at that fact in its proper light.It did not depend on our will.Our God is the only one who could foresee and prevent it.And, to give you plainly my own mind, if I were God Almighty, and a miserable rat would come to eat me, I would strike him dead before he could touch me.)

    Như quý độc giả có thể thấy,niềm tin vững chắc của tôi về quyền năng của một linh mục có thể biến đổi một mẩu bánh thành ra Thiên Chúa của tôi đã hầu như tan thành mây khói.Hiển nhiên là Thiên Chúa đã muốn mở mắt tôi ra để tôi thấy rõ những sự vô nghĩa kinh khủng của một tôn giáo mà Thiên Chúa của nó có thể bị chuột tha đi và ăn mất.

    Khả năng hiểu biết của tôi đã nói với tôi bằng một giọng to như tiếng sấm: “Đừng có tiếp tục làm linh mục của một Thiên Chúa mà nhà ngươi có thể làm ra hàng ngày, và chuột có thể tha Thiên Chúa đi vàăn mất.”

    Tuy mù nhưng Cha Daule hiểu rõ, qua những lời tôi nói, là niềm tin của tôi đã bị chao đảo.Ông ta bèn thuyết cho tôi một hồi về vai trò của những đức thánh cha, của các công đồng, và thuộc tính không thể sai lầm của các giáo hoàng khi dạy cho thế giới tín đều về sự “biến thể”.Tôi có thể bác bỏ từng điểm một.Nhưng làm sao mà khả năng hiểu biết của tôi có thể chống lại giáo hội Rô-ma.Tôi bị cấm không được dùng đến khả năng ấy vì nó không có một ki-lô nào để chống lại những khả năng hiểu biết thông thái, thánh thiện và không thể sai lầm [của các bề trên như giáo hoàng, tổng giám mục…TCN].

    Một giờ sau, với những dòng nước mắt hối hận, tôi quỳ trước Cha Daule trong phòng xưng tội, xưng cái tội to lớn của tôi là trong một lúc, tôi đã nghi ngờ khả năng của các linh mục có thể biến một mẩu bánh thành thân thể của Thiên Chúa.Ông ta đã tha tội cho tôi, và để trừng phạt tôi, ông cấm tôi không được nói một lời nào về số phận đáng buồn của Thiên Chúa [bị chuột tha đi và ăn mất] mà ông ta đã tạo ra sáng nay; vì, ông ta nói: “Chuyện này sẽ hủy diệt đức tin của những tín đồ công giáo Rô-ma chân thành nhất.” (This would destroy the faith of the most sincere Roman Catholics.)

    * * *

    Câu chuyện rút gọn của linh mục Chiniqui chỉ có vậy nhưng tôi cho rằng như vậy kể cũng đủ để cho chúng ta thấy rõ bản chất đức tin trong Ki Tô Giáo là như thế nào, có thuộc loại mê tín hoang đường hay không, hay là một đức tin bắt nguồn từ sự hiểu biết chân thật về các vấn đề?Tôi xin để quý độc giả tự mình nhận định.

    Để kết luận, xin được trích dẫn nhận định sau đây của hai nhân vật: David Hume, một triết gia nổi tiếng của Tô Cách Lan (Scotland), và Leo Tolstoy, một đại văn hào Nga.Đọc bài “Linh Mục Là Ai?” của Linh Mục Vũ Đức chúng ta mới thấy rằng những nhận định này quả thật là chính xác :

    David Hume:“Trong tất cả các tôn giáo thì tôn giáo vô lý và vô nghĩa nhất là tôn giáo mà những người hiến thân cho Chúa, sau khi đã tạo ra Chúa, lại đi ăn thịt Chúa của họ.”

    (Of all religions, the most absurd and nonsensical is that whose votaries eat, after having created, their deity.)

    Leo Tolstoy :Tôi tin chắc rằng giáo lý của giáo hội Công Giáolà một sự nói láo xảo quyệt và xấu xa theo lý thuyết, và là sự pha trộn của sự mê tín thô thiển nhất và trò ma thuật về phương diện thực hành (I am convinced that the teaching of the church is in theory a crafty and evil lie, and in practice a concoction of gross superstition and witchcraft.)

    Câu trả lời của Linh Mục Vũ Đức:

    “LINH MỤC là ai? Trả lời một cách ngắn gọn và đầy đủ Ngài là CHÚA KITÔ THỨ HAI (Alter Christus) như thế thưa Cha mới [được phong linh mục]: từ nay Cha là Chúa KITÔ.”

    đã chứng tỏ nhận định của Leo Tolstoy ở trên không sai một mảy may.

    Like

    • Thằng điên mất dạy

      Like

    • Luận điệu của TCN và đồng bọn, cùng những đồng chí đcsvn của chúng, chỉ là luận điệu của quỷ dữ hỏa ngục.Chúng thật vô phúc vì quá xấu xa gian xảo ác độc thủ đoạn nên chắc chắn phải bị trừng phạt đích đáng : Khi hồn vừa lìa khỏi xác, chúng bị quỷ dữ lôi ngay vào ở chỗ dành riêng dưới nanh vuốt quỷ dữ trong hỏa ngục để đời đời tha hồ căm hờn nghiến răng tru trếu chửi rủa nhau.Đời sống này dù ngắn hay dài,sướng hay khổ cũng chẳng là bao so với đời sau đời đời trong hạnh phúc vui tươi an bình, hay đau khổ một thời gian hoặc phải đau khổ triền miên do kết quả của cuộc sống đời này có những tư tưởng,việc làm tốt hay xấu .Riêng tội ác và sự xấu xa gớm ghiếc của TCN và đồng bọn khiến chúng phải trả giá đắt ghê gớm ,vì quỷ dữ chỉ có lửa độc dữ trong lòng và móng vuốt gây ra nỗi đau đớn cùng cực, cùng sự kinh hoàng khủng khiếp để thưởng công cho những kẻ tích cực làm việc cho chúng, theo ý chúng.

      Like

  10. NHỮNG CHUYỆN DÂM TĂNG Ở TÂY ÚC
    – TRẦN VĂN THẮNG-
    http://www.tinparis.net/thoisu14/2014_08_27_DamTangoTayUc_TranvanThang_CoivaymaKPVay.html

    Tinparis cám ơn một thân hữu ở Úc đã gởi bài viết dưới đây. Trong tinh thần dè dặt, chúng tôi đảng bài nầy để rộng đường dư luận.
    *
    * *

    Đạo Phật bây giờ trở thành mạt pháp, khắp nơi ma tăng, quỷ sư, dâm tăng nổi lên tại nhiều ngôi chùa và tự viện, không những chỉ có ở trong nước, mà ở nước ngoài cũng không tránh khỏi thói trần tục xâm nhập vào chốn thiền môn, giới tu sĩ phạm giới, phá hoại đạo và phỉ báng đức Phật Thích Ca qua những hành vi tình dục, trác táng hơn cả người bình thường.

    Hầu như nơi nào có chùa là có xáo trộn, trai gái, nhiều gia đình phật tử tan nát cũng vì sự quyến rủ của sư. Dâm tăng trở thành mối họa cho đạo phật, nhiều sư trước đây cũng có dan díu tình dục âm thầm, như trường hợp huề thượng Thích Quảng Đức, tự thiêu, được cho là bồ tát, nhưng sau khi đảng cộng sản tấn phong liệt sĩ, thì mới hay là bồ tác phu nhân và bồ tát con tham dự ngày dựng tượng. Nổi bật là thiền sư Thích Nhất Hạnh và Thích Nữ Chân Không…khi còn sống, những vụ lem nhem tình dục thường được dấu kín và phật tử có khuynh hướng bao che, không dám tố cáo, vì ngại luật nhân quả, gây nghiệp báo, nhưng chính sự im lặng là đồng lõa với tội lỗi.

    Ngày nay ở nước ngoài, tình trạng bảo lãnh theo qui chế tu hành, hay bảo lãnh sư theo diện du lịch, ở các nước dân chủ, tôn trọng tự do tín ngưỡng, trở thành khe hở cho công an, tình báo cộng sản giả dạng, được nhiều chùa mà tăng sĩ thường xuất phát từ khối Ấn Quang, bảo lãnh sang và gây tác hại cho đạo, cũng như gia đình.

    Tiểu bang Tây Úc với dân số người Việt không tới 20 ngàn, nhưng nơi nầy có nhiều chùa: chùa Chánh Giác do cư sĩ Lê Tấn Kiết, người tai tiếng trong vụ tình dục, ép buộc một phụ nữ từ Việt Nam sang, vì hoàn cảnh mà phải ở chùa, chờ chửa trị cho đứa con trai bị phỏng nặng. Cư sĩ Lê Tấn Kiết làm chấn động cư dân nơi đây, hầu hết mọi người bang hoàng khi nhìn thấy cảnh dâm ô từ một DVD, do chính con trai nạn nhân quay được, dù lúc đó Lê Tấn Kiết, pháp danh Đại Hỷ đã ngoài 80, nay chùa do một người gốc du học tên Dõng cai quản.

    Chùa Phổ Quang do thượng tọa Thích Phước Nhơn, người từng bị cư sĩ Lê Tấn Kiết cho là thích xem loại phim trần tục khi mới được bảo lãnh sang, nay Thích Phước Nhơn làm chủ thêm 2 ngôi chùa ở Sydney là chùa Phổ Minh và Phổ Đà. Chùa Quan Âm do một số ni cô ly khai từ chùa Phổ Quang và trong thời gian qua, có thêm chùa phật nữa ở vùng beechoro do một sư trẻ ở Việt Nam, tên là Minh Hiếu, sư nầy nghe nói rất giàu, đi xây chùa nhiều nơi và cũng có số đào hoa…

    Tây Úc từng là nơi hoằng pháp nhiều lần của hòa thượng Thích Giác Nhiên, tu theo phái ôm bình bát, nhưng ông tu sĩ nầy cũng nổi tiếng là dâm tăng từ Hoa Kỳ, khi mới sang thành lập chùa Việt Nam ở Oregon. Dù mang tai tiếng, nhưng ở Tây Úc, có một số đệ tử của Thích Giác Nhiên cung kính ông như là phật, họ dùng cả căn phòng chánh trong tư gia để thờ Thích Giác Nhiên.

    Mới đây, một vụ tai tiếng làm chấn động dư luận là 1 sư trẻ do một tín nữ bảo lãnh từ Việt Nam sang để giảng đạo, tên là Thích Thiện Từ, làm tình với một tín nữ trẻ, đẹp, là chủ nhân tiệm làm móng tay, cô ta có biệt danh là Người Đẹp Mũi Né, có người chồng đẹp trai, nhưng cớ sao lại chịu để làm tình với một tên cạo đầu, mặc áo cà sa, cục mịt như tên chăn trâu?. Chuyện nầy khá lâu, xảy ra nhiều tháng qua, nhưng nay đổ bể khi cảnh làm tình nầy được phổ biến âm thầm trong cộng đồng ở tiểu bang trong một thu hình rất là tục, không thua gì các phim sex.

    Theo tin tức cho biết là tên công an giả dạng sư nầy đã làm tình với vài tín nữ, nghe đâu Người Đẹp Mũi Né ghen?. Tên Thích Thiện Từ, bề ngoài ra đạo đức, y thường tỏ ra điềm đạm, bề ngoài và nói là chỉ ăn rau với đậu, nên có 1 số phật tử tin là hắn tu thật. Tên công an nầy đã bỏ trốn sang Queensland sau khi đổ bể, không phải là thường trú, mà do một tín nữ bảo lãnh sang, hình như là diện du lịch, nên hắn đang tìm một tín nữ nhẹ dạ nào đó, bảo lãnh theo diện hôn phối để được ở lại Úc luôn? Hay cũng có thể hắn nhờ một trụ trì nào đó bảo lãnh ở lại theo diện tu sĩ?. Phật tử khắp nơi hãy nhận ra tên công an nầy để khỏi bị lừa bịp tiền, tình và nhiều thứ khác nữa.

    Bí mật bao quanh tên công an giả dạng sư ở Tây Úc là Thích Thiện Từ, trở thành nguồn dư luận, gây chú ý đến nhiều người. Ngày nay, tình trạng công an giả dạng tu sĩ lan tràn ở nước ngoài, chúng tốt nghiệp trường đào tạo công an, khoa tôn giáo, được đảng biến thành sư, thông làu kinh tụng, nấu ăn chay và nam công an có thể học thêm khoa làm tình, nên thầy chùa từ Việt Nam sang thường hay lấy vợ người ta, làm tan nát nhiều gia đình có thói quen trọng phật kính tăng mà không nhìn thấy cái tâm tà và nguồn gốc của chúng.

    Những tín nữ nhẹ dạ như trường hợp tín nữ Người Đẹo Mũi Né là một bằng chứng về tình trạng suy đồi phật giáo, chính những tên dâm tăng gốc công an nầy, vừa làm công tác phá hoại đạo, vừa có cơm no bò cỡi. Không phải sư có số đào hoa, nhưng có thể là chúng khai thác nhiều lãnh vực như:
    • -Được huấn luyện cách làm tình để khuyến dụ những tín nữ.
    • -Có thể là sư gốc công an có nhiều tiền ( tình báo có quỷ đen, từ những nguồn kinh tài bất chính như trồng cần sa, buôn bán ma túy..) là phương tiện để sư công an mua chuộc và rửa tiền.
    • -Cũng có thể là những gia đình nạn nhân của thầy chùa công an, có làm ăn tại Việt Nam, nên đành phải để cho sư cộng sản dùng để giải quyết sinh lý trong thời gian được bảo lãnh với bình phong tôn giáo, để gia đình tại Việt Nam được bao che, làm ăn an toàn. Bọn công an cạo đầu mặc áo cà sa vừa xuất ngoại, vừa có tiền tiêu xài và vừa có nơi giải quyết sinh lý trong thời gian hoằng pháp.

    TRẦN VĂN THẮNG.
    27.08.2014

    Thầy Chùa Hát Nhạc Chế Bá Đạo

    Thầy chùa lửa đi kiếm gái

    Like

  11. Đôi Dòng Cảm Nghĩ: Ngày Mai Đi Nhận Xác Chồng.

    Hôm nay lần đầu tiên trong đời. Tôi đã nghe bài ” Tưởng Như Còn Người Yêu ” của nữ thi sĩ Lê Thị Ý với câu nói não nuột: Ngày mai đi nhận xác chồng

    Bài thơ rất thương đau, nhưng vô nghĩa không có ý thức nhân văn chính trị xã hội. Hết sức tầm thuờng vô vị của một tâm hồn đàn bà ích kỷ, hoàn toàn không có tình yêu và niềm tự hào xót xa thật sự từ đáy lòng mình về người chồng: Tổ quốc danh dự và trách nhiệm. Tôi không muốn có lời khiếm nhã mất lịch sự xúc phạm đến nữ thi sĩ Lê Thị Ý. Mong chị thông cảm cho tôi. Tính tôi ngay thẳng bộc trực. Tôi ngán nhất câu:
    “Chiếc quan tài phủ cờ màu
    Hằn lên ba vạch đỏ au phũ phàng.“

    Tôi không muốn phân tích ý nghĩa của toàn bài thơ, không hiểu chị Ý vô tình hay hữu ý: Rõ ràng bài thơ này là bài thơ phản chiến, oán trách chế độ cộng hòa miền Nam. Chị đổ lổi cho chế độ ông Diệm, ông Thiệu chống cộng sản bảo vệ tổ quốc là sai.

    Bài thơ hoàn toàn không tri ân người lính mà mang hình ảnh người vợ ra để dọa thiên hạ, oán trách người lính chết đi là thiệt mình là ngu dại. Em mất chồng vô ích, anh hy sinh vô ích. Một cái chết thừa thãi .

    Bài thơ này còn đuợc ông Phạm Duy tuy toa phổ nhạc. Cậy tí nhạc sĩ phổ lung tung giống như tay việt gian mật vụ Trịnh Công Sơn. Một đám nhạc sĩ bất tài thiểu năng không có lý trí và tâm hồn. Rồi đây lịch sử sẽ lên án phán xét các ông.

    Rất nhiều người hát như Ý Lan, Thái Thanh, Khánh Ly v. v… chứ không riêng nghệ sĩ Nguyễn Hoài Hương. Nhưng vì tôi qúy mến ngưỡng mộ Hoài Hương. Vậy tôi xin viết tặng Hoài Hương một bài thơ để đối lại bài của chị Lê thị Ý.

    Mảnh Hồn Tang Thương
    viết tặng nghệ sĩ Hoài Hương

    Chiến tranh kết thúc từ lâu
    Nấm mồ hiu quạnh dãi dầu nắng mưa
    Thoảng nghe mây gió lưa thưa
    Tiếng ai nức nở hàng dừa thông reo

    Chập chờn ủ rũ chân đèo
    Nhạt mùi hương khói hắt heo tháng ngày
    Lời thề danh dự đắng cay
    Kẻ thua người thắng hận dày sầu mang

    Nước nhà chẳng chịu ngó ngàng
    Khinh khi bạc bẽo võ vàng trời ơi!
    Thân nhân tỵ nạn xứ người
    Nghĩa trang cào xới lệ rơi xóm làng

    Vợ về thăm mộ bẽ bàng
    Tào khang tình nghĩa dở dang đất bằng
    Nửa đêm vằng vặc vầng trăng
    Bóng ma thấp thoáng gọi rằng em yêu

    Không nơi nương tựa sớm chiều
    Ăn mày cửa Phật tiêu điều hoàng hôn
    Bạn bè chiến hữu cô hồn
    Cộng hòa Nam Việt xác chôn mất rồi…!

    cảm tác sau khi nghe ngâm bài: “ Tưởng Như Còn Người Yêu “ của Lê Thị Ý
    7.9.2014 Lu Hà

    Nguyên tác:

    NGÀY MAI ĐI NHẬN XÁC CHỒNG

    Ngày mai đi nhận xác chồng
    Say đi để thấy mình không là mình
    Say đi cho rõ người tình
    Cuồng si độ ấy hiển linh bây giờ

    Cao nguyên hoang lạnh ơ hờ
    Như môi góa phụ nhạt mờ dấu son
    Tình ta không thể vuông tròn
    Say đi mà tưởng như còn người yêu

    Phi cơ đáp xuống một chiều
    Khung mây bàng bạc mang nhiều xót xa
    Dài hơi hát khúc thương ca
    Thân côi khép kín trong tà áo đen

    Chao ơi thèm nụ hôn quen
    Ðêm đêm hẹn sẽ chong đèn chờ nhau
    Chiếc quan tài phủ cờ màu
    Hằn lên ba vạch đỏ au phũ phàng

    Em không thấy được xác chàng
    Ai thêm lon giữa hai hàng nến trong?
    Mùi hương cứ tưởng hơi chồng
    Nghĩa trang mà ngỡ như phòng riêng ai.

    LÊ THỊ Ý; 1970.

    Like

Góp ý, Thảo luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: