Bài mới trên BÁO TỔ QUỐC

25 TỔ CHỨC DÂN SỰ VIỆT NAM ĐỒNG LOẠT PHẢN ĐỐI CÔNG AN BẠO HÀNH

Ảnh: Bác sỹ Nguyễn Đan Quế, linh mục Phan Văn Lợi, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, Hội trưởng Giáo hội Phật giáo Hòa hảo Thuần túy - cụ Lê Quang Liêm, hòa thượng Thích Không Tánh, mục sư Nguyễn Hồng Quang.
Ảnh: Bác sỹ Nguyễn Đan Quế, linh mục Phan Văn Lợi, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, Hội trưởng Giáo hội Phật giáo Hòa hảo Thuần túy - cụ Lê Quang Liêm, hòa thượng Thích Không Tánh, mục sư Nguyễn Hồng Quang.

Ảnh: Bác sỹ Nguyễn Đan Quế, linh mục Phan Văn Lợi, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, Hội trưởng Giáo hội Phật giáo Hòa hảo Thuần túy – cụ Lê Quang Liêm, hòa thượng Thích Không Tánh, mục sư Nguyễn Hồng Quang.

Bản lên tiếng về các vụ bạo hành tra tấn gần đây của công an Việt Nam

(Các tổ chức xã hội dân sự tại Việt Nam)

Kính gởi

– Toàn thể Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước,

– Quốc hội và Bộ Công an Việt Nam.

– Các Chính phủ dân chủ và các Cơ quan Nhân quyền quốc tế

Ngày 7-11-2013, phái đoàn thường trực của VN tại Liên Hiệp quốc ra thông cáo báo chí cho biết VN đã trở thành thành viên mới nhất của Công ước Liên Hiệp Quốc chống Tra tấn và những hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn ác, hạ nhục phẩm giá con người. Mới đây, ngày 23-10-2014, Chủ tịch nước Việt Nam đã trình Quốc hội phê chuẩn Công ước quốc tế ấy. Thế nhưng, kể từ hôm đó tới nay, đột nhiên bùng phát nhiều hành vi đối xử tàn ác, nhiều hành động tra tấn dã man, hạ nhục nhân phẩm giáng xuống những công dân vô tội do chính lực lượng an ninh thực hiện.

1- Ngày 29-10, cựu tù nhân lương tâm Phạm Bá Hải và tín đồ Hòa Hảo Lê Văn Sóc lên Đà Lạt để thăm một cựu tù nhân chính trị Dương Âu. Cuộc viếng thăm đó đã bị an ninh vào tận nhà can thiệp, sau đó lực lượng này (mặc thường phục) bám theo hai ông rồi đột nhiên xông vào hành hung họ cách dã man tại một ngõ vắng dẫn vào nhà trọ. Kết thúc là màn kịch công an đến giải cứu.

Hôm sau, 30-10, hai ông ra Vinh để viếng thăm ủy lạo một số cá nhân và gia đình tù nhân lương tâm khác, trong đó có anh Chu Mạnh Sơn, Đậu Văn Dương, gia đình Đặng Xuân Diệu… Tuy nhiên, ngay khi vừa xuống sân bay, họ đã bị an ninh vây bắt với lý do (vu cáo) là đã hành hung và cướp giật tài sản một người dân tại Đà Lạt. Ông sĩ quan chỉ huy lực nượng an ninh, đã nhục hình tra tấn anh Phạm Bá Hải qua việc móc mũi giật ngược đầu, dí thuốc cháy đỏ vào cánh tay và lăng nhục anh như tội đồ thực thụ.

Trong khi đó, anh Chu Mạnh Sơn chưa kịp đón hai người bạn thì đã bị bắt đưa về đồn công an xã Nghi Ân và trụ sở huyện Yên Thành. Tại hai nơi đó, anh đã bị các tay an ninh nhục mạ (gọi là đồ chó), đánh đập (với lời hăm dọa đánh cho chết, đánh cho ngu đần). Cuối cùng là bắt anh nộp phạt 2.500.000 đồng (nếu không thì chẳng trả lại xe máy và đồ đạc) vì “tội” vi phạm lệnh quản chế tại địa phương.

2- Ngày 01 và 02-11-2014, hàng trăm côn đồ được công an thuê mướn và chỉ đạo tại chỗ đã ngăn chặn các lối vào nhà nguyện của Hội thánh Tin lành Mennonite tại Mỹ Phước, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương, mục đích là cản trở các tín đồ sinh viên sắc tộc H’Mong và công nhân thuộc khu công nghiệp Mỹ Phước đến thờ phượng thứ bảy và chúa nhật. Cùng lúc, lực lượng phối hợp ấy đã ném gạch đá vào nhà nguyện, xông vào bên trong đánh đập tín đồ, khiến nhiều người trọng thương (nhưng không dám đi bệnh viện cấp cứu) và còn lùng bắt những ai vì hoảng sợ mà bỏ trốn vào các khu rừng lân cận. Các nạn nhân và người dân sở tại đã gọi điện cho công an khu vực và chính quyền địa phương các cấp nhưng họ chẳng hề đến hiện trường để giải quyết và cứu nguy.

Từ lâu, nhà cầm quyền Bình Dương đã muốn xóa sổ cộng đoàn Tin lành (vốn nằm ngoài hệ thống quốc doanh) này và đã nhiều phen sách nhiễu chính vị đứng đầu là Mục sư Nguyễn Hồng Quang, hành hung lẫn cướp bóc nhiều chức sắc chức việc của họ và tàn phá trụ sở của họ (như vụ 76 mục sư nhân sự Tin lành Mennonite bị  sỉ nhục, vu cáo, đánh đập ngày 9/6-12/6/2014 bởi cảnh sát cơ động và cảnh sát 113 tỉnh Bình Dương). Biến cố hôm 01 và 02 là cao điểm (nhưng chưa phải là tận điểm) cho chiến dịch triệt hạ tôn giáo ấy.

3- Tối ngày 2-11-2014, cựu tù nhân lương tâm kiêm nhà báo tự do Trương Minh Đức đã bị một nhóm công an mặc thường phục chặn đường, đuổi bắt rồi đánh đập hết sức tàn nhẫn tại khu vực ngã 3 Suối Giữa (quốc lộ 13, Bình Dương). Ít nhất 8 tay đã tham gia vào cuộc truy sát này trong đó có một trung tá từng bắt giữ trái phép và đánh đập ông Đức trước đó tại nhà riêng ở Bến Cát, Bình Dương. Một số dùng mũ bảo hiểm liên tục đập mạnh vào mặt và đầu nhà báo. Những tên khác tiếp tục đấm đá vào mạn vào sườn. Sau khi đánh cho nạn nhân bất tỉnh, đám công an côn đồ còn cướp sạch những gì ông mang theo, gồm 1 máy tính xách tay, 1 máy tính bảng, 04 thẻ ATM và 600 USD.

Được biết đây là lần thứ ba trong vòng hai tháng, nhà báo Trương Minh Đức bị hành hung bởi những công an côn đồ mà trong cả ba lần đều có sĩ quan hiện diện. Lần nhất vào chiều ngày 08-09-2014 tại khu vực số 63 Khâm Thiên, quận Đống Đa, Hà Nội. Lần hai vào nửa đêm ngày 11-9-2014, tại trụ sở công an thị trấn Mỹ Phước, Bến Cát, Bình Dương.

Từ 3 sự việc tiêu biểu trên đây, các Tổ chức Xã hội dân sự ký tên dưới đây đồng nhận định:

1- Khi phát biểu trước Quốc hội hôm 23-10, ông Trương Tấn Sang nói việc áp dụng Công ước chống Tra tấn của Liên Hiệp Quốc phải phù hợp với pháp luật và hiến pháp của Việt Nam (BBC 24-10-2014). Vậy phải chăng những sự kiện trên đây chính là các phương cách phù hợp hóa mà ông đề cập? Ngoài ra, ông Trần Văn Hằng, Chủ nhiệm Ủy ban đối ngoại của Quốc hội, nói việc phê chuẩn Công ước chống Tra tấn là “cơ sở pháp lý quan trọng” để “đấu tranh chống các luận điệu vu cáo, xuyên tạc về việc tra tấn, ngược đãi phạm nhân…” của “các thế lực thù địch chống phá Nhà nước Việt Nam”. Vậy những hành vi nghênh ngang tàn nhẫn vừa thấy phải chăng là dàn dựng của các thế lực địch thù?

2- Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa mới sang Italia (18-10) gặp Giáo hoàng Phanxicô để cho biết Nhà nước VN hoàn toàn tôn trọng tự do tôn giáo. Ông cũng vừa đến Ấn Độ (27-10) và tới thăm nơi Đức Phật thành đạo để tỏ ra mình cũng là một kẻ có tín ngưỡng. Vậy những gì ông vừa cho thuộc hạ làm tại giáo xứ Thái Hà (cướp hồ Ba Giang của họ cuối tháng 10 vừa qua), tại nhà và tại nhà nguyện cộng đoàn Tin lành Mennonite Bến Cát như vừa nói phải chăng là cách ông tôn trọng và cổ vũ quyền tự do tôn giáo của dân ông?

3- Toàn dân Việt Nam ngày càng khốn đốn vì đồng tiền mất giá, nợ công oằn lưng (20 triệu/đầu người), môi trường ô nhiễm, y tế tồi tệ, học phí cắt cổ, cán bộ tham nhũng vòi tiền… Nay lại còn phải nơm nớp vì nạn công an ngày càng hành xử như côn đồ và cướp giật: hành hung, trấn lột từ thường dân đến các chiến sĩ dân chủ, tra tấn tới chết vô số người bị bắt vào đồn nhiều khi chỉ vì những chuyện không đâu. Và rồi chẳng có mấy công an thủ phạm bị nghiêm trị đúng pháp luật.

4- Đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam phải hoàn toàn chịu trách nhiệm khi tạo nên những công cụ mù quáng và tàn bạo, chỉ biết “còn đảng còn mình”, những kẻ hoàn toàn mất hẳn lương tâm, bất chấp luật pháp, chỉ biết làm theo lệnh, để mong chúng giúp giữ vững chế độ. Chủ trương thâm độc này chỉ làm dày hồ sơ tội ác và làm dài bản cáo trạng mà một ngày nào đó, nhân dân sẽ đưa ra vừa cho những kẻ chỉ thị vừa cho những kẻ thừa hành mà mặt mũi và tên tuổi đều đang được ghi nhớ.

Làm tại Việt Nam ngày 6 tháng 11 năm 2014

Các tổ chức xã hội dân sự đồng ký tên:

1)    Bach Dang Giang Foundation: Ths. Phạm Bá Hải

2)    Bauxite Việt Nam: GS Nguyễn Huệ Chi, GS Phạm Xuân Yêm

3)    Cao Trào Nhân Bản: Bs. Nguyễn Đan Quế

4)    Con Đường Việt Nam: Ông Trần Văn Huỳnh

5)    Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự: Ts. Nguyễn Quang A

6)    Giáo Hội Cao Đài: CTS Hứa Phi, CTS Nguyễn Kim Lân, CTS Bạch Phụng

7)    Giáo Hội Liên Hữu Lutheran VN-HK: MS Nguyễn Hoàng Hoa.

8)    Giáo hội Tin Lành Mennonite: MS Nguyễn Hồng Quang, MS Phạm Ngọc Thạch

9)    Hiệp hội Đoàn kết Công nông: Ông Nguyễn Mai

10)  Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị & Tôn Giáo: Ông Nguyễn Bắc Truyển

11)  Hội Anh Em Dân Chủ: Ls. Nguyễn Văn Đài

12)  Hội Bảo Vệ Quyền Tự Do Tôn Giáo: Cô Hà Thị Vân

13)  Hội Bầu Bí Tương Thân: Ông Nguyễn Lê Hùng

14)  Hội Cựu Tù Nhân Lương Tâm: Bs. Nguyễn Đan Quế, Lm. Phan Văn Lợi

15)  Hội Nhà Báo Độc Lập: Ts. Phạm Chí Dũng

16)  Hội Phụ nữ Nhân quyền: Cô Huỳnh Thục Vy, Bà Trần Thị Hài, Cô Trần Thúy Nga

17)  Hội Thánh Tin Lành Chuồng Bò: MS Nguyễn Mạnh Hùng, MS Lê Quang Du

18)  Khối Tự do Dân chủ 8406: Kỹ sư Đỗ Nam Hải.

19)  Lao Động Việt: Cô Đỗ Thị Minh Hạnh

20)  Mạng Lưới Blogger: Cô Nguyễn Hoàng Vi

21)  Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền: Linh mục Nguyễn Hữu Giải

22)  Phật Giáo Hòa Hảo Thuần Túy: Cụ Lê Quang Liêm, Phan Tấn Hòa, Tống Văn Chính, Lê Văn Sóc.

23)  Phong trào Dân oan Liên kết đấu tranh: Bà Trần Ngọc Anh.

24)  Tăng Đoàn GH Phật Giáo VNTN: HT. Thích Không Tánh, TT. Thích Viên Hỷ.

25)  Văn phòng Công lý Hòa bình DCCT: Lm Đinh Hữu Thoại.

Quảng cáo/Rao vặt

5 Comments on 25 TỔ CHỨC DÂN SỰ VIỆT NAM ĐỒNG LOẠT PHẢN ĐỐI CÔNG AN BẠO HÀNH

  1. Ngoại bang vạch mặt chỉ tên tên Hồ Chí Minh là một trong 25 kẻ tàn bạo ác độc nhất không khác gì với Pol Pot !

    25 of History’s Deadliest Dictators (Hồ Chí Minh bị tố ở 3:43′ như Pol Pot)

    *

    Bàn tay nhuốm máu của Hồ Chí Minh

    Lời người Viết : Bài trình bày dưới đây đã được Hubbell viết và đăng trên tạp chí Reader’s Digest số tháng 11/1968 cùng với lời giới thiệu của Trung Tướng TCLC Lewis W Walt , Quân Đoàn I , Nam Việt Nam ( 1966-1967 )
    Trung Tướng Walt viết :

    « Bài tường thuật nầy đã diễn tả một cách trung thực bản chất thực sự của kẻ thù tại Nam Việt Nam . Tôi đã chứng kiến cảnh một em bé trai 2 tay bị chặt đứt . Tôi đã nhìn những chiếc đầu người bị bêu trên đầu cọc và những thân hình bụng bị mổ toang ra . Trong 2 năm phục vụ tại Nam Việt Nam, cùng sát cánh chiến đấu và làm việc với lực lượng của miền Nam , tôi học hỏi được rằng các sự khủng bố của cộng sản trong bài nầy không phải là các biến cố tai nạn chiến tranh lẻ tẻ mà là do một chương trình tàn sát có chủ định sẵn , và đó là lý do khiến chúng tôi đã đáp ứng lại lời kêu gọi trợ giúp của Nam Việt Nam mà chúng tôi tin những nổ lực cứu giúp quốc gia nầy của chúng tôi rất đáng giá , cần thiết , và chủ yếu » .
    Viên Xã Trưởng cùng với bà vợ như người điên cuồng , một trong các đứa con của 2 người , một bé trai mới 7 tuổi , đã bị mất tích từ 4 ngày , họ tìm đến Trung Tướng Lewis W Walt để cầu cứu vì tin rằng đứa bé đã bị Việt Cộng bắt cóc , rồi thì đột nhiên , thằng bé thoát ra khỏi rừng , chạy băng qua các đồng lúa để trở về làng . Thằng bé vừa chạy vừa khóc . Mẹ nó chạy vội ra , ôm lấy nó vào lòng . Cả 2 bàn tay đứa nhỏ bị chặt đứt và trên cổ có đeo một cái bảng có ghi những dòng chữ cảnh cáo cho cha nó . Nếu ông ta hay bất kỳ người nào trong làng cả gan đi bỏ phiếu trong kỳ bầu cử tới sẻ chịu những điều tệ hại hơn nữa cho các đứa con còn lại của ông ta .

    Tại một xã khác không cách xa Đà Nẳng là bao , Việt Cộng cũng đưa ra lời cảnh cáo tương tự . Tất cả những người dân được tập trung lại trước nhà viên Xã Trưởng , kể cả người vợ của ông ta đang bụng mang dạ chửa và 4 đứa con để chứng kiến cảnh khủng bố dã man của bọn chúng . Lưỡi ông Xã trưởng bị cắt , và hạ bộ cũa ông ta cũng bị thiến rời ra , đem nhét vào trong mồm trầy trụa máu rồi khâu lại . Trong khi ông ta chết , bọn VC xoay ra hành hạ bà vợ bằng cách dùng dao rạch bụng bà ta ra . Đứa trẻ 9 tuổi bị chúng dùng một que nhọn xuyên qua từ tai bên này sang tai bên kia . Hai đứa kia cũng bị giết chết một cách tương tự . Chỉ còn đứa bé gái 5 tuổi được bọn chúng cho thoát chết , rồi nó chỉ còn biết cầm tay người mẹ đã chết mà gào khóc .
    Trung Tướng Walt đã đến trụ sở một quận lỵ , một ngày sau khi quận này bị VC và bộ đội miền Bắc tràn ngập . Một số binh sĩ VNCH không bị chết trên chiến trường đã bị bắt . Chúng trói những binh sĩ này lại rồi bắn vào mồm hay vào sau gáy họ . Vợ con của họ và trẻ em mới 2 hay 3 tuổi , bị bọn chúng đưa đi diễu hành trên đường phố trần truồng trước khi bị chúng đưa ra hành quyết . Có người cổ họng bị cắt đứt , có người bị chặt đầu hay bị mổ bụng , xác họ được đem bêu trên các hàng rào kèm theo với những tấm bảng cảnh cáo dân làng , nếu tiếp tục ủng hộ chính quyền Sài Gòn , cũng sẽ bị chung một số phận tương tự . Những hành động khủng bố như vậy không phải là những hành động lẻ tẻ mà là do một chính sách có chủ định sẵn của chúng .

    Trong khi đó , có những người thơ ngây và chống đối Hoa Kỳ trên khắp thế giới , vì bị mê hoặc bởi những luận điệu tuyên truyền của Cộng Sản , nên đã đánh trống khua chiêng , rêu rao chống lại cái họ gọi là tính chất vô luân của Hoa Kỳ trong cuộc chiến tại Nam Việt Nam như oanh tạc bằng không quân hay xử dụng tới bom Napalm ( thực ra rất hạn chế cho những truờng hợp thật cần thiết mà thôi ) gây ra nhiều thiệt hại cho dân chúng , ngày cũng như đêm , trong nhiều năm chinh chiến . Cộng Sản đã chỉ nêu nhiều hành động mà chúng cho là tàn bạo , dã man của miền Nam Việt Nam nhưng đã quên rằng chính chúng đã phạm vào những tội ác kinh tởm ghê gớm . Tính tới cuối năm 1967 , chúng đã phạm vào khoảng 100 ngàn trường hợp khủng bố , chống lại người dân miền Nam Việt Nam qua những chuỗi dài hành động bạo tàn vô tận như tra tấn , sát hại chẳng khác gì dưới thời đại của Đức Quốc Xã .

    Những hành động khủng bố được bắt đầu từ khi lãnh tụ độc tài Hồ Chí Minh củng cố được quyền lực tại miền Bắc , trước ngày lịch sử 1954 chiến thắng Pháp tại Điện Biên Phủ , Hồ đã cho thi hành một chiến dịch tàn bạo đối với chính nhân dân của y .
    Hầu hết tại các làng mạc miền Bắc , những đoàn cán bộ võ trang điều động dân chúng tới để chứng kiến những vụ tự thú của các địa chủ mà chúng cho là cường hào ác bá . Rồi thì tới lượt các nhà trí thức , các giáo viên , nói tóm lại tất cả những ai có thể là nguồn chống đối mai sau này , cũng được chúng gom lại để làm bản tự thú về những tư tưởng lầm lẫn trong quá khứ .

    Tiếp theo là những toà án nhân dân được thiết lập để xét xử họ . Có nhiều trường hợp các nạn nhân đã bị hành quyết , bị chặt đầu hay bị hành hạ , trói tay , trói chân thẩy xuống các hố tập thể và vùi đất, đá lên cho tới chết .
    Hồ lại còn tái diễn những hành động khủng bố này từng định kỳ một . Có khoảng từ 50 ngàn và 100 ngàn người được coi như đã bị giết chết một cách tàn nhẫn trong các cuộc tắm máu như vừa kể trên . Trong thập niên 1950 , Hồ cũng đã dẹp tan những cuộc nổi dậy tại Bắc Việt Nam , đặc biệt nhất là vụ nổi dậy của nhân dân Quỳnh Lưu , tỉnh Nghệ An tháng 11/1956 , và ngay cả tại Nam Ðàn là nơi sinh quán của họ Hồ . Vì dân chúng nổi lên chống lại sưu cao thuế nặng , nên Hồ phải đưa quân đội tới đàn áp . Khoảng 6 ngàn nông dân , không võ trang , đã bị tàn sát .
    Sau khi đã củng cố được Miền Bắc rồi , Trung Ương đảng Bộ Ðảng Cộng Sản Việt Nam họp tại Hà nội ngày 13/03/1959 đưa ra quyết định phải có hành động chống lại Miền Nam Việt Nam , hợp lực với những cán binh nằm vùng đã ở lại Miền Nam sau khi Pháp thất trận năm 1954 . Nhiệm vụ loại bỏ các nhà lãnh đạo tại Miền Nam , thanh toán tất cả những ai có thân nhân phục vụ , trong quân lực VNCH , các nhân viên dân chính , cảnh sát , hoặc tất cả những ai không chịu đóng thuế cho chúng .
    Một du kích quân VC bị bắt đã cho biết các hoạt động của nhóm 8 người của y tại các làng mạc miền Nam như sau : Lần đầu tiên chúng tôi vào làng này , chúng tôi đã hạ sát 4 người đàn ông mà huyện uỷ của chúng tôi nói họ là những phần tử phản động rất nguy hiểm đối với chúng tôi . Một người đã theo Pháp , tham gia vào trận chiến chống lại chúng tôi và rồi bây giờ lại ủng hộ chính quyền miền Nam . Một người khác đã có cảm tình với quân đội chính phủ và 2 người khác là địa chủ và họ đã bị chặt đầu .
    Trung Tướng Walt cũng cho biết về chính sách cách mạng của Việt Cộng khi chúng vào 2 ngôi làng khác . Trong một trường hợp , một em bé gái 15 tuổi đã cung cấp tin tức của Việt Cộng cho toán TCLC của Tướng Walt , em đó sau này bị VC bắt cóc đem vào rừng , hành hạ , tra tấn trước khi chặt đầu em , như để cảnh cáo cho những người khác trong làng . Những kẻ sát nhân kia không ai khác là người anh ruột của em bé gái nạn nhân , cùng với 2 đồng chí của y .
    *

    The Blood-Red Hands of Ho Chi Minh
    Readers Digest,
    November 1968 John G.Hubbell
    The village chief and his wife were distraught. One of their children, a seven-year-old boy, had been missing for four days. They were terrified, they explained to Marine Lt. Gen. Lewis W. Walt, because they believed he had been captured by the Vietcong.
    Suddenly, the boy came out of the jungle and ran across the rice paddies toward the village. He was crying. His mother ran to him and swept him up in her arms. Both of his hands had been cut off, and there was a sign around his neck, a message to his father: if he or any one else in the village dared go to the polls during the upcoming elections, something worse would happen to the rest of his children.
    The VC delivered a similar warning to the residents of a hamlet not far from Danang. All were herded before the home of their chief. While they and the chief’s pregnant wife and four children were forced to look on, the chief’s tongue was cut out. Then his genital organs were sliced off and sewn inside his bloody mouth. As he died, the VC went to work on his wife, slashing open her womb. Then, the nine-year-old son: a bamboo lance was rammed through one ear and out the other. Two more of the chief’s children were murdered the same way. The VC did not harm the five-year-old daughter — not physically: they simply left her crying, holding her dead mother’s hand.
    General Walt tells of his arrival at a district headquarters the day after it had been overrun by VC and North Vietnamese army troops. Those South Vietnamese soldiers not killed in the battle had been tied up and shot through their mouths or the backs of their heads. Then their wives and children, including a number of two- and three-year-olds, had been brought into the street, disrobed, tortured and finally executed: their throats were cut; they were shot, beheaded, disemboweled. The mutilated bodies were draped on fences and hung with signs telling the rest of the community that if they continued to support the Saigon government and allied forces, they could look forward to the same fate.
    These atrocities are not isolated cases; they are typical. For this is the enemy’s way of warfare, clearly expressed in his combat policy in Vietnam. While the naive and anti-American throughout the world, cued by communist propaganda; have trumpeted against American “immorality” in the Vietnam war — aerial bombing, the use of napalm, casualties caused by American combat action — daily and nightly for years, the communists have systematically authored history’s grisliest catalogue of barbarism. By the end of 1967, they had committed at least 100,000 acts of terror against the South Vietnamese people. The record is an endless litany of tortures, mutilations and murders that would have been instructive even to such as Adolf Hitler.
    Perhaps because until recently the terrorism has been waged mainly in remote places, this aspect of the war has received scant attention from the press. Hence the enemy has largely succeeded in casting himself in the role of noble revolutionary. It is long past time for Americans, who are sick and tired of being vilified for trying to help South Vietnam stay free, to take a hard look at the nature of this enemy.
    Bloodbath Discipline.
    The terror had its real beginning when Red dictator Ho Chi Minh consolidated his power in the North. More than a year before his 1954 victory over the French, he launched a savage campaign against his own people. In virtually every North Vietnamese village, strong-arm squads assembled the populace to witness the “confessions” of landowners. As time went on, businessmen, intellectuals, school teachers, civic leaders — all who represented a potential source of future opposition — were also rounded up and forced to “confess” to “errors of thought.” There followed public “trials,” conviction and, in many cases, execution. People were shot, beheaded, beaten to death; some were tied up, thrown into open graves and covered with stones until they were crushed to death, Ho has renewed his terror in North Vietnam periodically. Between 50,000 and 100,000 are believed to have died in these blood-baths — in a coldly calculated effort to discipline the party and the masses. To be sure, few who escape Ho’s terror now seem likely to tempt his wrath. During the 1950s, however, he had to quell some sizeable uprisings in North Vietnam — most notably one that occurred in early November 1956, in the An province, which included Ho’s birthplace village of Nam Dan. So heavily had he taxed the region that the inhabitants finally banded together and refused to meet his price. Ho sent troops to collect, and then sent in an army division, shooting. About 6,000 unarmed villagers were killed. The survivors scattered, some escaping to the South. The slaughter went largely unnoticed by a world then preoccupied with the Soviet Union’s rape of Hungary.
    With North Vietnam tightly in hand, the central committee of the North Vietnamese communist party met in Hanoi on March 13, 1959, and decided it was time to move against South Vietnam. Soon, large numbers of Ho’s guerrillas were infiltrating to join cadres that had remained there after the French defeat in 1954. Their mission: to eliminate South Vietnam’s leadership, including elected officials, “natural” leaders, anyone and everyone to whom people might turn for advice. Also to be liquidated were any South Vietnamese who had relatives in their country’s armed forces, civil, services or police; any who failed to pay communist taxes promptly; any with five or more years of education.
    A captured VC guerrilla explained how his eight-man team moved against a particular target village: “The first time we entered the village, we arrested and executed on the spot four men who had been pointed out to us by the party’s district headquarters as our most dangerous opponents. One, who had fought in the war against the French was now a known supporter of the South Vietnamese government. Another had been seen fraternizing with government troops. These two were shot. The others, the village’s principal landowners, were beheaded.”
    General Walt tells of the “revolutionary purity” of Vietcong who came home to two other villages. In one case, a 15-year-old girl who had given Walt’s Marines information on VC activities was taken into the jungle and tortured for hours, then beheaded. As a warning to other villagers, her head was placed on a pole in front of her home. Her murderers were her brother and two of his VC comrades. In the other case, when a VC learned that his wife and two young children had cooperated with Marines who had befriended them, he himself cut out their tongues.
    Genocide.
    In such fashion did the storm of terror break over South Vietnam. In 1960, some 1,500 South Vietnamese civilians were killed and 700 abducted. By early 1965, the communists’ Radio Hanoi and Radio Liberation were able to boast that the VC had destroyed 7,559 South Vietnamese hamlets. By the end of last year, 15,138 South Vietnamese civilians had been killed, 45,929 kidnaped. Few of the kidnaped are ever seen again.
    Ho’s assault on South Vietnam’s leadership class has, in fact, been a form of genocide — and all too efficient. Thus, if South Vietnam survives in freedom, it will take the country a generation to fully replace this vital element of its society. But the grand design of terror involves other objectives, too. It hopes to force the attacked government into excessively repressive anti-terrorist actions, which tend to earn the government the contempt and hatred of the people. It also seeks valuable propaganda in the form of well-publicized counter-atrocities certain to occur at the individual level — for South Vietnamese soldiers whose families have suffered at communists’ hands are not likely to deal gently with captured VC and North Vietnamese troops.
    Dr. A. W. Wylie, an Australian physician serving in a Mekong Delta hospital, points out that a hamlet or village need not cooperate with the Saigon government or allied forces to mark itself for butchery; it need only be neutral, a political condition not acceptable to the communists. After a place has been worked over, its people of responsibility are always identifiable by the particularly hideous nature of their wounds. He cites some cases he has seen:
    — When the VC finished with one pregnant woman, both of her legs were dangling by ribbons of flesh and had to be amputated. Her husband, a hamlet chief, had just been strangled before her eyes, and she also had seen her three-year-old child machine-gunned to death. Four hours after her legs were amputated, she aborted the child she was carrying. But perhaps the worst thing that happened to her that day was that she survived.
    — A village policeman was held in place while a VC gunman shot off his nose and fired bullets through his cheekbones so close to his eyes that they were reduced to bloody shreds. He later died from uncontrollable hemorrhages.
    — A 20-year-old schoolteacher had knelt in a corner trying to protect herself with her arms while a VC flailed at her with a machete. She had been unsuccessful; the back of her head was cut so deeply that the brain was exposed. She died from brain damage and loss of blood.
    Flamethrowers at Work.
    Last December 5, communists perpetrated what must rank among history’s most monstrous blasphemies at Dak Son, a central highlands village of some 2,000. Montagnards — a tribe of gentle but fiercely independent mountain people. They had moved away from their old village in VC-controlled territory, ignored several VC orders to return and refused to furnish male recruits to the VC.
    Two VC battalions struck in the earliest hours, when the village was asleep. Quickly killing the sentries, the communists swarmed among the rows of tidy, thatch-roofed homes, putting the torch to them. The first knowledge that many of the villagers had of the attack was when VC troops turned flamethrowers on them in their beds. Some families awoke in time to escape into nearby jungle. Some men stood and fought, giving their wives and children time to crawl into trenches dug beneath their homes as protection against mortar and rifle fire. But when every building was ablaze, the communists took their flamethrowers to the mouth of each trench and poured in a long, searing hell of fire — and, for good measure, tossed grenades into many. Methodical and thorough, they stayed at it until daybreak, then left in the direction of the Cambodian border.
    Morning revealed a scene of unbelievable horror. The village now was only a smoldering, corpse-littered patch on the lush green countryside. The bodies of 252 people, mostly mothers and children, lay blistered, charred, burned to the bone. Survivors, many of them horribly burned, wandered aimlessly about or stayed close to the incinerated bodies of loved ones, crying. Some 500 were missing; scores were later found in the jungle, dead of burns and other wounds; many have not been found.
    The massacre at Dak Son was a warning to other Montagnard Settlements to cooperate. But many of the tribesmen now fight with the allies.
    If the communists’ “persuasion” techniques spawn deep and enduring hatred, Ho could not care less; the first necessity is the utter, subjugation, of the people. Ho was disturbed by the rapid expansion of South Vietnam’s educational system: between 1954 and 1959, the number of schools had tripled and the number of students had quadrupled. An educated populace, especially one educated to democratic ideals, does not fit into the communist scheme. Hence, the country’s school system was one of Ho’s first targets. So efficiently did he move against it that the World Confederation of Organizations of the Teaching Profession soon sent a commission, chaired by India’s Shri S. Natarajan, to investigate.
    Typical of the commission’s findings is what happened in the jungle province of An Xuyen. During the 1954-55 academic year, 3,096 children attended 32 schools in the province; by the end of the 1960-61 school year, 27,953 were attending 189 schools. Then the communists moved in. Parents were advised not to send their children to school.
    Teachers were warned to stop providing civic education, and to stop teaching children to honor their country, flag and president. Teachers who failed to comply were shot or beheaded or had their throats cut, and the reasons for the executions were pinned or nailed to their bodies.
    The Natarajan commission reported how the VC stopped one school bus and told the children not to attend school anymore. When the children continued for another week, the communists stopped the bus again, selected a six-year-old passenger and cut off her fingers. The other children were told, “This is what will happen to you if you continue to go to that school.” The school closed.
    In one year, in An Xuyen province alone, Ho’s agents closed 150 schools, killed or kidnapped more than five dozen teachers, and cut school enrollment by nearly 20,000. By the end of the 1961-62 school year, 636 South Vietnamese schools were closed, and enrollment had decreased by nearly 80,000.
    But, in the face of this attack, South Vietnam’s education system has staged a strong comeback. Schools destroyed by the communists have been rebuilt, destroyed, and rebuilt again. Many teachers have given up their own homes and move each night into a different student’s home so the communists can’t find them, or commute from nearby cities, where they leave their families.
    Against such determination, the size of Ho’s failure can be measured: in 1954, there were approximately 400,000 pupils in school in North and South Vietnam together; today South Vietnam alone has some two million in school. About 35,000 — four times as many as in 1962 — now attend five South Vietnamese universities, while 42,000 more attend night college.
    A South Vietnamese government official explains: “A war shatters many traditional values. But the idea of education has an absolute hold on our people’s imagination.”
    Bar of Justice.
    The pitch of communist terrorism keeps rising. After the Tet carnage at Hue early this year, 19 mass graves yielded more than 1,000 bodies, mostly civilians — old men and women, young girls, schoolboys, priests, nuns, doctors (including three Germans who had been medical-school faculty members at Hue University). About half had been buried alive, and many were found bound together with barbed wire, with dirt or cloth stuffed into their mouths and throats, and their eyes wide open. The communists came to Hue with a long list of names for liquidation — people who worked for the South Vietnamese or for the US government, or who had relatives who did. But as their military situation grew increasingly desperate, they began grabbing people at random, out of their homes and off the streets, condemned them at drumhead courts as “reactionaries” or for “opposing the revolution” and killed them.
    “The Tet offensive represented a drastic change in tactics,” says General Walt. “This is a war to take over the South Vietnamese people. Ho launched the Tet offensive because he knew he was losing the people. But his troops didn’t know it; they were told that they didn’t need any withdrawal plans because the people would rise and fight with them to drive out the Americans. What happened was just the opposite. Many fought against them like tigers.” Some of the Tet offensive’s explosion of atrocities probably can be attributed to sheer vengeful frustration on the part of Ho’s terror squads — which Ho may well have foreseen, and counted on.
    The full record of communist barbarism in Vietnam would fill volumes. If South Vietnam falls to the communists, millions more are certain to die, large numbers of them at the hands of Ho’s imaginative tortures. That is a primary reason why, at election times, more than 80 percent of eligible South Vietnamese defy every communist threat and go to the polls, and why, after mortar attacks, voting lines always form anew. It is why the South Vietnamese pray that their allies will stick the fight through with them. It is why the vast majority of American troops in Vietnam are convinced that the war is worth fighting. It is why those who prance about even in our own country — waving Vietcong flags and decrying our “unjust” and “immoral” war should be paid the contempt they deserve.
    Finally, it is why the communists should be driven once and for all from South Vietnam — and why, if possible, the monsters who presently rule North Vietnam should be brought before the bar of justice.

    John Hubbell & Nguyễn Hữu Nguyên

    The Blood-Red Hands of Ho Chi Minh – from Reader’s Digest
    http://www.paulbogdanor.com/left/vietnam/hochiminh.html

    Like

  2. Linh mục, giám mục, hồng y,… đều do ngoại bang Vatican bổ nhiệm và làm tay sai cho Vatican. Chính lực lượng Việt gian này đã đầu độc, súc vật hóa người Việt trở thành một loại súc sanh (con chiên) vô tri cần được chăn dắt với đức tin “quên mình trong vâng phục”, trở thành thành phần “phi dân tộc” chỉ biết có nước chúa mà đại diện là Vatican, sẵn sàng làm tay sai cho quân xâm lược chống lại quê hương mình như LM Hoàng Quỳnh với khẩu hiện “Thà mất nước không thà mất chúa”. Có thể gọi chính xác bản chất của đội ngũ chăn chiên này là Vatican kiều hay là Việt gian tay sai Vatican. Nên thêm từ “thằng” trước chức danh của lũ này khi xưng hô, vd thằng cha (LM) để phân biệt với cha mình.

    Những Khuôn Mặt Việt Gian Tiểu Biểu Thời Pháp Thuộc

    Muốn biết đích xác những TỘI ĐỒ DÂN TỘC lẫn cả các giáo giặc, giáo gian và Việt gian trong quá khứ lẫn thời cận đại thì phải có liêm sĩ với lương tri để định thần nhận rõ những sự kiện bất khả phủ bác sau đây. Trước tiên phải kể đến một số người trong Hồ Sơ Tộc Ác của Hội Thừa Sai Paris như sau:

    Tổng đốc Phương

    “1. Tổng Đốc Phương, tức Đỗ hữu Phương, sinh năm 1844 tại Saigon, nguyên chủng sinh tại Penang, thông thạo tiếng Pháp, được Pháp chọn tham gia phái đoàn của Pháp trong cuộc thương lượng với triều đình Huế năm 1868. Sau đó Phương tham gia các cuộc tảo thanh chống Nguyễn Trung Trực tại Rạch Giá. Năm 1872, Phương được Pháp thăng chức tổng đốc Saigon.

    Trần bá Lộc.

    “2. Trần Bá Lộc, sinh năm 1834 trong một gia đình Thiên Chúa giáo tại Long xuyên. Lộc xin vào đoàn quân Thiên Chúa giáo do Charner tổ chức chuyên việc lùng quét các nhóm quân kháng chiến. Sau khi tham gia nhiều trận đánh tái chiếm Rạch Giá, Lộc được Pháp phong chức tổng đốc Rạch Giá.

    Y là tên đại Việt gian được Pháp tín nhiệm trao nhiệm vụ triệt hạ phong trào kháng chiến từ Quảng Nam đến Phan Thiết.

    Với nhiệm vụ này, Trần Bá Lộc đã giết hại khoảng 25 ngàn người Việt yêu nước.

    “3. Trần Tử Ca, nguyên là một người bên lương, sinh trưởng tại Gò Vấp. Lúc đầu y theo kháng chiến, nhưng sau đó y theo đạo Thiên Chúa giáo, rời bỏ hàng ngũ kháng chiến theo giặc chống lại Tổ Quốc. Năm 1862, Ca được Pháp bổ làm tri huyện Hóc Môn. Năm 1865, y đi theo quân đội Pháp càn quét các tỉnh Miền Tây. Đêm 9-2-1885, Ca bị nghĩa quân giết chết.

    “4. Huỳnh Công Tấn, là một người Thiên Chúa giáo trong hàng ngũ nghĩa quân của Trương Công Định từ 1861 (hay là gián điệp được cài vào nghĩa quân củaTrương Công Định? – tqd). Ngày 20-8-1864, Tấn phản bội, bất thần phục kích giết chết Trương Định tại Gò Công. Ngày 19-9-1868, Huỳnh Công Tấn cùng với 127 lính tập Thiên Chúa giáo vây bắt Nguyễn Trung Trực tại đảo Phú Quốc (và ông bị chúng mang về hành hình tại Rạch Giá – tqd). Như vậy, riêng một mình y đã sát hại được hai nhà cách mạng kháng chiến nổi tiếng tại Nam Kỳ. Y được Pháp trao tặng Bắc Đẩu Bội Tinh cho hai chiến công lớn này.(SH: xem Những phú hộ lừng danh Nam Kỳ )

    “5. Tạ Văn Phụng, tức Phêrô Lê Duy Phụng, nguyên chủng sinh tại Penang, lấy danh nghĩa là con cháu nhà Lê dấy binh “khởi nghĩa” tại Bắc Kỳ chống triều đình Huế năm 1858. Tạ Văn Phụng nhờ các giáo sĩ liên lạc với chính phủ Pháp để xin giúp đỡ. Napoleon III đồng ý, và cử tên gián điệp Duval sang Việt Nam giúp Phụng với mục đích biến Bắc Kỳ thành một xứ Thiên Chúa giáo với một chính quyền Thiên Chúa giáo. Duval đi Macao mua vũ khí và giúp Phụng thành lập những đoàn quân gồm đa số là giáo dân. Trong các tháng 6 và 7 – 1863, Phụng khởi binh đánh chiếm một vùng rộng lớn ở đồng bằng Bắc bộ gồm 3 tỉnh Quảng Yên, Hải Dương và Nam Định. Triều đình Huế cử Nguyễn Tri Phương đem quân ra Bắc dẹp loạn. Tạ Văn Phụng bị bắt đem về Huế xử tử” (Charlie Nguyễn).

    Một số người Việt Nam đã trở thành Việt gian đang ôm vũ khí của giặc Pháp đứng canh chừng các nữ anh hùng trong cuộc khởi nghĩa ở chiến khu Ba Đình?

    Người đàn ông Việt gian đó là “lính” của “Cụ Sáu” Linh mục Trần Lục.

    Phêrô Trần Lục (1825-1899), mà giáo hội thực dân đã ban cho tước vị ’ Le Baron de Phat Diem, còn được biết với biệt danh cụ Sáu.

    Ông nổi tiếng là một giáo sĩ nhiệt thành, đã cho khởi công xây dựng Nhà thờ Phát Diệm (từ vật liệu của thành nhà Mạc, xem Bí Mật Nhà Thờ Phát Diệm của Nguyễn Hồng Hải). Ông đã mang nhiều tiếng xấu khi hỗ trợ đắc lực cho Thực dân Pháp trong thời kỳ đầu người Pháp đô hộ Việt Nam. Trần Lục là người đã hướng dẫn và cung cấp cho quân xâm lược 150 tay súng Công giáo để đánh chiếm thành lũy Ninh Bình của nước ta, cũng là người đã huy động 5.000 giáo dân Việt Nam giúp Tây tiêu diệt chiến khu Ba Đình của anh hùng Đinh Công Tráng, và ông đã từng bị lãnh tụ chống xâm lăng Phan Đình Phùng đè ra hỏi tội và đánh đòn công khai vì tội hống hách ức hiếp dân chúng. Trần Lục được người Pháp tưởng thưởng hai Bắc Đẩu Bội Tinh vì đã hỗ trợ đắc lực cho quân viễn chinh Pháp. (xem http://vi.wikipedia.org/)

    ☞ Các gián điệp tự nguyện: Giám mục Phạm Ngọc Chi và các bà xơ báo cáo tin tức cho giặc Pháp.

    ☞ Những con chiên gốc Việt làm tôi mọi võng lọng mấy ông cố đạo giáo giặc ngoại bang thảm thính xứ sở Việt Nam. ↓

    ☞ Và “đặc biệt” dưới đây mới thật là nhục nhã:

    Tổng Thống Ngô Đình Diệm, vừa làm con bài của ngoại cường, vừa làm con chiên ngoan đạo làm “sáng danh Chúa” bằng cách chà đạp tôn giáo khác trong thời gian nắm quyền của gia đình nhà Ngô.

    -Cúi đầu hôn nhẫn Hồng Y Spellman, cha đỡ đầu
    – Cúi đầu hôn nhẫn Hồng Y Agagianan, quan chức của Vatican đến chứng nhận buổi lễ “dâng nước Việt Nam” cho Đức Mẹ Thiên Chúa Giáo ↑

    ☞ Bọn siêu cường, tài phiệt quốc tế và giáo phiệt ngoại bang đã gieo rắc hận thù lên quê hương tôi – đất mẹ Việt Nam – để rồi, con người đã từng ngu xuẩn với nhau: giết thầy, giết cả bạn thân ngay từ thuở còn ấu thơ ăn chung bàn, ngủ chung chiếu:

    “Đăng Lương bị bạn Liên Thành thảm sát, thân vùi một nơi, đầu chôn một nẻo. Sau năm 1975, một đồ đệ cũ của Liên Thành (hiện còn sống gần chợ Bến Ngự) báo cho bà Thái Thị Sen biết Hồ Đăng Lương, con trai bà, đã bị thảm sát như thế nào và đã bị vùi dập nơi đâu. Nhờ thế gia đình của Hồ Đăng Lương tìm được thân và đầu của anh đem về ráp lại, an táng ngay trong khu vườn nhà.”

    Các sử gia Việt Nam đã nói:

    “Hễ đã phi Dân Tộc thì thế nào rồi cũng sẽ phản Dân Tộc”!

    Like

  3. Không phải như vậy đâu. Sự thật là tớ nghe họ nói rằng những người Miền Bắc dưới chế độ csvn rất dã man tàn bạo, giống như thú dữ. Bản tính ác độc, ích kỹ đó lộ rõ khi vào Miền Nam. Họ lại là những người ăn thịt chính đồng loại, con cái, thân nhân của mình. Tớ nghe thiên hạ kể như thế.
    Vì theo cộng sản của tên Hồ Chí Minh nên họ quá đói, nhưng chế độ tem phiếu csvn lại không cho họ đủ ăn. Hàng tháng họ lại phải cung cấp đủ lượng phân bắc (kít đấy!), nhưng vì thiếu ăn nên chả khi nào đủ kít. Cho nên hằng ngày họ còn phải giật lộn với cả chó vì tranh giành phân với chó.

    Vì thế chuyện họ giết người thân để giảm phần ăn, lại có thêm thịt là chuyện có thể xảy ra. Hiện tại chuyện ăn thai nhi, thuốc xi rô cuống nhau ở VN, phát xuất từ bọn Trung Cộng lây lan sang Miền Bắc VN và nay khi dân bắc 75 tràn vào VN thì nạn thai nhi, cuống nhau làm thuốc xào lăn rất phổ biến tại VN bắt nguồn là vậy.
    Ối giời, nạn đấu tố giết ông bà cha mẹ của bọn csvn đã từng rất phổ biến từ năm 1953. Bọn chúng kêu gọi nhau lập thành tích từ làng nầy sang làng khác, tranh nhau để mà đập đầu, đấu tố giết người, cả mấy trăm nghìn mạng dân MB chớ ít gì. Vì thế, chuyện thằng HCM và bọn csvn hiếp dâm hoặc uống máu trẻ VN để trường sinh, hay lấy máu thịt trẻ em cả sơ sinh làm thuốc bổ dưỡng như chuyện ăn thai nhi, ăn cuống nhau xào, thuốc cuống nhau … đâu còn ai lạ gì nữa.
    Ai từng đến VN cũng biết rõ. Vừa qua trên net có trưng bày cả video bọn lính csvn đập đầu khỉ, vượn, vọc nhúng nước sôi giết sống chúng rất tàn nhẩn để ăn.
    Muốn xem hình món ăn thai nhi, cuống nhau để chứng minh không? Có thể cho link xem được đấy! Khiếp!!!

    Like

  4. Tôi Đã Gặp Kẻ Ăn Thịt Người

    Hồi còn ở trại tị nạn Ft Chaffee, tôi ở khu B, cạnh giường một ông thượng sĩ già, quen gọi là thượng sĩ Của. Họ thì tôi không biết, ông cho biết hồi ông Diệm còn sống ông là lính của Lê Quang Tung, phòng vệ phủ Tổng Thông. (xem thêm Chân Dung NVQG Chương 13 – Tiếp Tục Sứ Mạng Truyền Thống Của Catô Giáo ở Hải Ngoại)

    Ông kể chuyện cho chúng tôi nghe, khi ông về làm việc ở Bến Tre, ông bắt được một người du kích VC , sau đó mổ bụng người này lấy gan và mang đến một quán nhậu mà chủ quán là con gái ông VC kia , nhờ cô chủ quán xào nấu.

    Sau khi đưa lên bàn nhậu, ông và các chiến hữu chia nhau ăn gan người và không quên mời cô chủ quán một miếng và còn hỏi “gan có ngon không”? Sau khi tính tiền ra đi ông mới cho cô con gái biết là cô vừa ăn thịt cha mình.

    Cô gái nghe xong chết giấc.

    Tôi nghe câu chuyện thì vô cùng bất nhẫn , tôi biết ông ThS Của nói thật,(1) vì mắt ông đỏ ngầu , đôi mắt của những kẽ sát nhân mà tôi đã từng gặp trong đời,

    Người đi đạo Ca-tô Rô-ma giáo thực tập ăn thịt uống máu người từ khi còn rất trẻ ở trong nhà thờ. Về nhà họ ăn tiết canh gần như là mọi lúc mọi nơi.

    Qua tới Mỹ các LM và giáo dân ăn tiết như điên. La Mã giáo ăn Cannibal (ăn thịt đồng loại) là truyền thống bí mật lâu đời. Các giáo sĩ người Bồ mang theo chó Phú Quấc (2) cùng văn hóa thịt cầy tới Đại hàn và VN và lưu truyền đến ngày nay.

    Khi bò ăn thịt bò thì có bệnh bò điên, người ăn thịt người thì sẽ phát cuồng nên mới có thánh chiến, mất hết lương tâm nghe theo giặc cướp giết hại người mình, cho nên mới có văn minh thịt chó và văn hóa tay sai.

    Còn quái từ Quốc Cộng là chuyện bên Tàu, Quốc là Quốc Dân Đảng của Tàu Tưởng, còn Cộng là CS đảng của tàu Mao, không ăn nhậu gì tới VN. Ta dùng từ của Tàu mà không hề hay biết cứ nhận vơ làm sứ mạng quốc tế làm tiền đồn chống cộng.

    Rõ là một chuyện hồ đồ xấu hổ nhất trong giòng lịch sử VN…

    Nguyễn Hồng Hải

    ________________

    (1) Ngày tôi rời khỏi trại Ft Chaffee đi đến Kansas City mùa noel 75 , còn nghe tin ông thượng sĩ Của cùng với 1 số anh em cựu quân nhân khác đi làm trại gà ở Oklamoha. Nếu ông còn sống thì cũng cở ngoài tuổi 80, lâu không liên lạc sống chết chưa rõ, nhưng câu chuyện kể rùng rợn này, có 2 anh KQ khác cũng được nghe. Đó là Lê thanh Nghiệp ở Lafayette , Nguyễn trí Tựu sau lấy con gái nhà báo Đạm phong ở Baton Rouge.

    (2) Chó Phú Quốc là một giống chó rất đặt biệt do các LM người Bồ đưa sang VN nuôi lấy thịt.

    Tôi là nhân chúng thật nghe chính miệng ông sát thù kễ lại nên cứ ghi tên thật của tôi.

    Like

Góp ý, Thảo luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: