Advertisements
Bài mới trên BÁO TỔ QUỐC

VŨ KHÍ CHỐNG TĂNG TẠI CHIẾN TRƯỜNG VIỆT NAM

Hỏa tiễn chống tăng B.40 và B.41 của Liên Xô

Từ năm 1962 quân đội Hoa Kỳ sản xuất hàng ngàn xe tăng M.113 để chở quân cứu ứng cho các ấp chiến lược, thời đó quân CSVN chỉ là quân du kích nên không có vũ khí chống tăng. 

Đến năm 1964 thì quân đội HK sử dụng loại xe tăng M.113 A.1 như là một loại bán chiến xa, che chắn cho bộ binh tùng thiết và trang bị hỏa lực tấn công hùng hậu ( 1 đại liên 12 ly 7 và 2 đại liên 7 ly 62 ).

Nhưng sau 1968 thì chiến trường VN trở thành trận địa chiến và các nhà vũ khí học Liên Xô đã chế ra súng chống tăng B.40.  Trong khi đó vỏ xe M.113 làm bằng hợp kim nhôm nên có độ nóng chảy dưới 800 độ C ( Nhôm nguyên chất nóng chảy ở 660 độ C );  nhưng trái đạn B.40 có đầu nổ lõm với nhiệt độ tập trung ở mũi là 2.500 độ C cho nên dễ dàng khoan thủng vỏ xe tăng và phà số hơi nóng còn lại vào trong thùng xe khiến cho tất cả những người ngồi trong xe bị chết phỏng với 1 trái đạn B.40.

Sau khi thử nghiệm B.40 trên chiến trường VN, các nhà vũ khì học Liên Xô phát hiện có khuyết điểm là hơi nóng phụt hậu phía sau của súng có thể làm chấn thương xạ thủ, vì vậy họ chế ra loại B.40 có loa che lửa ở phía sau, gọi là súng B.41.  Nhưng B.40 và B.41 chỉ diệt được M.113 chứ không diệt được xe tăng M.41, M.42, hay xe tăng M.48 của VNCH bởi vì vỏ bằng thép dày 2 cm, viên đạn B.40 không thể xoi thủng.

Sau khi B.40 xuất hiện trên chiến trường Việt Nam từ năm Mậu Thân thì lính Thiết giáp VNCH gọi M.113 là “Quan tài hỏa thiêu di động”.  Vì vậy M.113 chỉ tấn công vào những nơi có du kích quân mà thôi, còn khi nào ghi nhận có quân chính quy có trang bị B.40 thì lính M.113 nhường chiến trường cho xe tăng M.41 hay M.48.  Hoặc tiến sau quân bộ binh VNCH ít nhất là 200 mét, điều này trái hẳn nhị thức “chiến xa-bộ binh” của binh pháp.

Thiết vận xa M.113 có thể sẽ phải quay đầu chạy nếu phát hiện địch có B.40 hay B 41 ( Một tiểu đội bộ binh CSVN có 1 B.40, mỗi súng có 4 trái đạn ).  Đó là do thực tế chua xót của chiến thuật “Thiết vận xa” do Ngũ Giác Đài sáng chế ra từ năm 1962.  Chua xót là ở chỗ quân đội VNCH phải tiếp tục dùng cho hết số M.113 đã lỗi thời sau khi đã có B.40.

*( Đến năm 1979 đã có 28.000 chiếc M113 và M.113 A.1 đã được xuất xưởng.  Năm 1979 mới cải tiến lại với loại M.113 A.2 và năm 1987 với loại M113.A.3 nhưng chỉ dùng để chở quân trong vùng an toàn, cốt đối phó với đạn bắn tỉa của du kích quân chứ không còn được dùng như bán chiến xa ).

Lính thiết giáp của VNCH có sáng kiến chống B.40 bằng cách cột các bao cát thòng bên ngoài các bửng nhôm để cho viên đạn B.40 chạm vào các bao cát sẽ nổ trước khi xoi thủng vỏ nhôm.    Ngoài ra lính thiết giáp M.113 có sáng kiến chống tác hại của B.40 bằng cách nối 2 cây cần lái của xe M.113 bằng 2 cán dài cỡ bằng cán cuốc, tài xế ngồi trên nóc điều khiển xe bằng hai cán nối. Nếu xe có trúng đạn B.40 thì họ sẽ bị văng ra ngoài và chỉ bị thương mà thôi.

Súng chống tăng M.72 ( Hỏa tiễn Law ) của Mỹ

Súng chống tăng M.72 là loại súng phóng hỏa tiễn, ống phóng làm bằng sợi thủy tinh, đường kính 66 ly.  Quả đạn có khối thuốc nổ nặng 2,4 ký;  toàn thể súng cân nặng 2,6 ký.  Súng được chế tạo năm 1963 để thay thế cho loại súng chống tăng Bazoka được sử dụng trong thời Thế chiến 2.  So với M.72 thì Bazoka quá lỗi thời vì nặng và cồng kềnh.

Tháng 1 năm 1968, 100 khẩu M.72 được dùng để bắn đoàn xe tăng lội nước PT.76 của CSVN tại đồn Làng Vei, Khe Sanh.  Tuy nhiên kết quả là 100 khẩu M.72 không hạ được chiếc xe tăng nào.  Nhưng thời đó quân đội VNCH và HK cũng chưa để tâm lo lắng về việc chống tăng bởi vì quân CSVN tại Miền Nam không có xe tăng.

Đến trận Hạ Lào năm 1971 thì quân VNCH chạy dài mỗi khi xe tăng CSVN xuất hiện.  Bí quá Bộ tư lệnh quân đội HK tại Việt Nam (MACV) đành phải đưa số súng M.72 của quân đội HK cho các tiểu đoàn TQLC nhập trận vào giai đoạn chót.  Tuy nhiên kết quả chỉ có 2 chiếc T.54 bị hạ bằng M.72 tại căn cứ Delta do vì 2 chiếc xe tăng này đã tới sát hàng rào căn cứ, nghĩa là quá gần.

Sau đó MACV đem hằng loạt súng M.72 ra bắn thử nghiệm vào các chiếc xe tăng bị hư tại bãi bắn của Trung tâm huấn luyện Quang Trung thì thấy đạn M.72 vẫn có khả năng làm dứt xích xe tăng hoặc xuyên thủng mặt hông hay mặt sau của xe tăng.  Vì vậy MACV chủ trương dùng số M.72 phế thải của quân đội HK trang bị cho các đơn vị bộ binh VNCH.  Trong khi đó quân đội HK được trang bị vũ khí chống tăng bằng súng phóng hỏa tiễn Tow.

Cũng sau trận Hạ Lào, các sĩ quan bộ binh VNCH được huấn luyện sử dụng hỏa tiễn Tow nhưng chỉ bắn thực tập bằng súng không chứ không có trái đạn.  Và rồi sau đó thì quân đội VNCH cũng không có Tow, nhưng thay vì Tow là M.72.

Thực ra khuyết điểm của M.72 không phải là do khuyết điểm kỹ thuật, mà là do khuyết điểm chiến thuật.  M.72 chỉ bắn trúng đích trong vòng dưới 100 mét bởi vì phải ngắm mục tiêu bằng mắt trần, bắn độ ( nòng súng quay qua phải, qua trái hay nâng lên, chúc xuống đều do sự áng chừng của xạ thủ và chỉ bắn một lần là vứt luôn súng chứ không thể điều chỉnh cho trái đạn khác nếu bắn trật ).

Nhưng vấn đề là súng đại liên trên xe tăng có khả năng bắn rất hiệu quả từ 200 mét đến 1.200 mét.  Như vậy khi người xạ thủ M.72 chờ cho xe tăng tới gần dưới 100 mét thì trước đó súng đại liên của xe tăng đã vãi đạn như mưa về anh ta, cho nên người xạ thủ chỉ có nước bỏ chạy chứ không thể nào đủ bình tỉnh chờ xe tới gần.

Để khắc phục khuyết điểm bắn xa không trúng, người ta nghĩ ra cách tận dụng các khẩu M.72 đã lỡ sản xuất bằng cách ghép 4 ống phóng M.72 thành 1 súng với 1 tay cò, khi bắn xong trái thứ nhất thì nòng của trái thứ 2 nằm thế vào vị trí nòng của trái đạn vừa phóng đi; người xạ thủ bắn trái thứ nhất thấy đạn đi qua phải thì nhích ống phóng qua trái để bấm cò trái thứ 2;  nếu thấy đạn nổ cắm trước xe tăng thì nâng ống phóng lên 1 chút để nổ trái thứ 3, nếu thấy đạn ăn cao qua khỏi xe thì hạ ống phóng xuống một chút để bấm cò trái thứ 4.

Loại súng cải tiến này được đặt tên là XM. 202.  Nhưng với cả một “dàn” phóng hỏa tiễn nặng 11 ký trên vai thì lại càng khó trúng hơn là 1 ống.  Trong thuật ngữ vũ khí học thì chữ XM có nghĩa là đang còn thử nghiệm.  Sau khi thử nghiệm thấy thất bại cho nên XM. 202 chẳng bao giờ được đưa vào sản xuất.

Năm 1972, Bộ binh VNCH đã chạy dài khi 3 trung đoàn tăng CSVN tấn công Quảng Trị.  Ngày 2-5,  khi quân VNCH thối lui khỏi Quảng Trị thì quân Dù VNCH mới hạ được 3 xe tăng của CSVN bằng M.72 nhờ phục kích một đoàn tăng trong đêm tối ( Bắn ở vị thế rất gần ).  Lần này quân của Tiểu đoàn 11 Dù bắn được cả 3 chiếc bởi vì họ phục kích trong đêm, xe tăng chạy ngang qua trước mặt thì họ bấm cò, viên đạn trúng ngay xích phía hông cho nên phá hủy được tăng T.54.  Nhưng chỉ là phục kích ban đêm, chứ nếu là ban ngày thì xe tăng bị đứt xích nhưng súng đại liên trên xe vẫn còn thì những người phục kích không thể nào thoát khỏi trận mưa đạn đại liên của xe tăng.

Trong khi đó quân TQLC/VNCH rút về cố thủ ở Mỹ Chánh cũng chỉ có M.72 để chống lại đoàn tăng của CSVN đang từ Quảng Trị tràn xuống.  Trong thế tử thủ tại Mỹ Chánh, Đại đội 4 của Tiểu đoàn 2 TQLC bắt buộc phải chống lại đoàn tăng từ phía Bắc tràn xuống bằng súng chống tăng M.72.  Riêng Thiếu úy Nguyễn Hữu Hào, Đại đội phó, đã hạ được 6 xe tăng T.54 bằng súng M.72, nhưng một mình ông phải sử dụng tới 100 súng M.72 mới đạt được kết quả đó, và cũng nhờ chỉ có một bến lội sông duy nhất ở một chỗ đó mà lần lượt 6 chiếc tăng bị bắn hạ ( tầm ngắm quen thuộc, và gặp may mới trúng xích ).

Cũng trong mùa hè 1972, ngày 1-4 tại Bình Long, quân VNCH thuộc Chiến đoàn 49 tại căn cứ Sa Mát đã phá hủy 3 chiến xa T.54 của CSVN bằng M.72 ( Xe tăng đã lọt vào căn cứ, bị bắn đứt xích với khoảng cách quá gần ).

Năm 1972, ngày 13-4, lúc rạng sáng, Sư đoàn 9 CSVN cùng với 15 xe tăng bắt đầu tấn công vào thị xã An Lộc. Khi đoàn xe tăng tiến tới gần Bộ chỉ huy Trung đoàn 8 thuộc Sư đoàn 5 BB VNCH thì bị quân phòng thủ bắn cháy 3 chiếc bằng súng M.72, 4 chiếc khác bị trực thăng vũ trang và máy bay C.130 bắn hạ.  Số xe tăng còn lại chạy thối lui. ( Quân phòng thủ nấp phía sau tường rào bằng đá xây, dùng M.72 bắn thẳng vào xích bên hông xe T.54, khoảng cách là từ hàng rào nhà cho tới giữa đường ).

Năm 1973, ngày 6-11, tại Quảng Đức. Một tiểu đoàn tăng T.54 của quân CSVN trong vòng 2 tiếng đồng hồ đã quét sạch 2 tiểu đoàn ĐPQ; chiếm 3 đồn Bu Prang,  Bu Pong và Dak Sang mà không một chiếc tăng nào bị bắn hạ.  Trong khi 2 tiểu đoàn ĐPQ được trang bị mỗi đại đội 70 súng chống tăng M.72. ( Nghĩa là tổng cộng có 560 súng chống tăng ).

Năm 1975, khi quân CSVN dùng xe tăng tấn công quân Biệt cách dù tại Phước Long thì chính hồi ký của Tướng Cao Văn Viên xác nhận : “Xe tăng của địch được trang bị khác hơn : súng M.72 của chúng ta không ngăn chận được.  Khi bị trúng đạn xe tăng địch chỉ khựng lại một chút rồi tiếp tục đứng lên ( The Final Collapse, bản dịch của Nguyễn Kỳ Phong trang 113 ).

Câu “trang bị khác hơn” của Tướng Viên đã được chính ông giải thích trong vài trang trước :  “Súng chống xe tăng loại M.72 do quân ta sử dụng không hữu hiệu để hủy hoại chiến xa địch. Xe tăng của Cộng quân trong cuộc tấn công này có gắn thêm chướng ngại vật ở hai bên hông xe” ( trang 110 ) …Thay vì nói xe tăng CSVN được treo các bao cát bên hông xe thì Tướng Viên phải nói trớ ra rằng “có gắn thêm chướng ngại vật”.

Kiểu treo bao cát xung quanh xe là sáng kiến của quân thiết vận xa M.113 VNCH đã được BTTM/VNCH phổ biến kinh nghiệm để chống B.40, B.41 từ năm 1969.  Ngoài ra từ 1971 BTTM của Tướng Viên cũng phổ biến rất nhiều tài liệu chống chiến xa, các tài liệu này đều nói rõ không thể chống T.54 bằng M.72 phía trước mặt bởi vì bửng trước của T.54 dày 4 Cm .  Cho nên dù có bao cát hay không có bao cát, súng M.72 vẫn không chống được T.54.

Năm 1975, Tiếp sau trận Phước Long là các trận Ban Mê Thuột, có 7 xe tăng T.54 cũng bị hạ bằng M.72 do bị phục kích trong thành phố, khoảng cách giữa súng và xe là từ tường nhà ra tới đường.  Và sau này tại Phan Thiết, Vũng Tàu, Thủ Đức, Sài Gòn…xe tăng CSVN cũng bị hạ bởi M.72 do bị phục kích trong thành phố;  súng đại liên và đại bác tên xe tăng không thể vừa chạy vừa rưới đạn vào hai bên hè phố như ở trong rừng.  Nhờ vậy người xạ thủ có đủ bình tỉnh để chờ xe tới gần, nếu bắn hụt hay xe chỉ đứt xích thì xạ thủ cũng thừa đường tẩu thoát bằng cách lẫn sau nhà phố..

Hỏa tiễn chống tăng Tow của quân Mỹ

Mùa  hè 1972, kể từ ngày 1-4-1972 đến 2-5-1972 xe tăng của quân CSVN đã càn quét Sư đoàn 3 BB/VNCH và 2 Lữ đoàn TQLC/ VNCH ra khỏi tỉnh Quảng Trị. Trong khi đó quân VNCH chỉ biết chống tăng bằng phi cơ ( ban ngày ) và súng 106 ly không giật đặt trên thiết vận xa M.113 hoặc dùng pháo 105 ly, 155 ly bắn trực xạ.

Sau đó quân đội VNCH tổ chức lại lực lượng để tái chiếm Quảng Trị, Tướng Abrams của Hoa Kỳ quyết định giao cho quân đội VNCH một phân đội hỏa tiễn chống tăng Tow gồm 8 súng, gắn trên 8 chiếc xe Jeep.  Tổng cộng trong trận Quảng Trị có hơn 40 xe tăng của CSVN bị hạ bởi quân Dù và TQLC/VNCH nhưng chỉ có 6 chiếc được ghi nhận do hỏa tiễn Tow, số còn lại đa số do mìn chống chiến xa, M.72 bắn trong tầm gần, đại bác không giật 106 ly, và đại bác 105 ly bắn trực xạ.

Tow là loại hỏa tiễn có dây điều khiển;  được phóng bởi ống phóng bằng thép dài 1,2 mét, cỡ nòng 152 ly.  Đầu đạn nặng 3,9 ký, đi xa tối đa 3.700 mét.  Sau khi thoát ra khỏi nòng viên đạn đi với tốc độ 278 mét/giây, kéo theo một sợi dây điện, cuối sợi dây điện là hộp điều khiển nằm trên tay của xạ thủ. Xạ thủ có thể điều khiển cho viên đạn đi sang phải, sang trái, lên cao, xuống thấp sao cho tới đích là chiếc xe tăng

Sau hiệp định Paris tháng 1-1973 thì mỗi Quân khu của VNCH được trang bị 2 phân đội hỏa tiễn Tow để chống tăng (16 chiếc, không đủ thiếu vào đâu nếu xe tăng xuất hiện cỡ 1 trung đoàn 45 chiếc ).  Hơn nữa, để bảo mật kỹ thuật vận hành của Tow cho nên mỗi phân đội đều có sĩ quan cố vấn HK đi theo để báo cáo tiêu thụ đạn và trình xin cấp số đạn mới sau khi đã sử dụng hết cấp số đạn nguyên thủy.

Do đó trong trận Mùa Xuân 1975 xe tăng của quân CSVN tiến từ Quảng Trị đến Cà Mau nhưng không có một chiếc nào bị hạ bởi hỏa tiễn Tow.   ( Có thể là Tow được cung cấp hạn chế là để bảo mật kỹ thuật, nhưng cũng có thể cơ chế vận hành của Tow có vấn đề, chưa được hoàn chỉnh.  Chỉ trang bị cho quân đội VNCH một ít để trấn an mà thôi.  Mã số tiếp liệu của súng Tow vào năm 1972 là  XBGM-71 A.  Ký hiệu X ở đầu cho biết là súng đang còn thử nghiệm chứ chưa hoàn chỉnh ).

Hỏa tiễn chống tăng AT.3 của quân CSVN

Mùa Hè 1972, Hà Nội xua vào Nam 16 sư đoàn và 48 trung đoàn biệt lập, tấn công Miền Nam tại Kontum, Quảng Trị và An Lộc với tất cả các loại vũ khí mới nhất của Liên Xô, trong đó có hỏa tiễn chống tăng có dây điều khiển AT.3.  *( Nguyên tắc vận hành giống như Tow nhưng viên đạn nhỏ hơn và tầm xa khoảng 1.300 mét ).

Năm 1972, ngày 8-4, tại Bình Long, quân CSVN làm chủ tình hình tại Lộc Ninh. Quân VNCH rút lui về hướng Nam.  Có 30 xe tăng trong số 100 xe của Thiết đoàn 5 VNCH thoát về được An Lộc, hầu hết các xe tăng bị bắn bằng hỏa tiển chống tăng AT.3.

Năm 1972, ngày 23-4, sáng sớm, tại Kontum. Quân CSVN đồng loạt pháo kích vào các căn cứ quân sự tại Dak Tô và Tân Cảnh.  Sau nửa tiếng đồng hồ pháo kích, Trung đoàn 66 thuộc Sư đoàn 2 CSVN tràn lên tấn công  một Tiểu đoàn Bộ binh thuộc Sư đoàn 22 BB/ VNCH, cách căn cứ Tân Cảnh 2 cây số.  Tiểu đoàn Thiết Kỵ tại căn cứ Tân Cảnh tiến ra cứu ứng thì bị phục kích bằng Hỏa tiễn AT.3.  Kết quả 10 chiếc M.41 bị cháy hết 8 chiếc, còn 2 chiếc bị bắn đứt xích.

Ngày 24-4, buổi trưa, Trung đoàn 1 thuộc Sư đoàn 2 CSVN cùng với 5 xe tăng T.54 tấn công căn cứ Dak Tô 2 do Trung đoàn 47 BB thuộc Sư đoàn 22 BB/VNCH trấn giữ.  Tuy nhiên khi quân CSVN vào căn cứ thì các đơn vị thuộc Trung đoàn 47 đã băng rừng rút về Bình Định, chỉ còn lại 7 xe tăng M41 ở lại tử chiến với quân CSVN cho tới khi chiếc thứ 7 bị bắn cháy bởi hỏa tiễn AT.3.

So sánh với hỏa tiễn có dây XBGM.71 A (Tow) của Mỹ thì AT.3 của Liên Xô rất hoàn hảo, được người lính bộ binh mang trên lưng và mỗi đơn vị bộ binh được trang bị rất nhiều AT.3.  Trong trận Mùa Hè năm 1972, quân CSVN tại Tây Nguyên đã bắn tới 1.320 trái hỏa tiễn AT.3.  Chứng hỏa tiển có dây không cần thiết phải đặt trên xe, và chi phí sản xuất cho loại hỏa tiễn loại đó không là bao nhiêu.

BÙI ANH TRINH

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

14 Comments on VŨ KHÍ CHỐNG TĂNG TẠI CHIẾN TRƯỜNG VIỆT NAM

  1. “Năm 1973, ngày 6-11, tại Quảng Đức”… Chính xác là đêm 13 rạng ngày 14/11/1973. Tôi trực tiếp tham gia đánh chiếm Bù Bông.

    Số lượt thích

  2. Khi viết: “Ngoài ra lính thiết giáp M.113 có sáng kiến chống tác hại của B.40 bằng cách nối 2 cây cần lái của xe M.113 bằng 2 cán dài cỡ bằng cán cuốc, tài xế ngồi trên nóc điều khiển xe bằng hai cán nối. Nếu xe có trúng đạn B.40 thì họ sẽ bị văng ra ngoài và chỉ bị thương mà thôi.”
    Tác giả có thấy tài xế M113 lái như thế hay nghe kể lại? Ai đã từng lái xe thiết giáp M113 xin xác nhận rằng có thể lái như thế an toàn và hiệu quả khi xung trận. Xem ra tài xế lái như thế là chỉ nghĩ đến bản thân mình, còn những đồng đội trong xe thì sao? Vã lại với sức công phá của B40 hay B41 đủ làm cho tài xế văng khỏi xe thì e cũng khó sống.
    Mời quý vị xem hai video sau đây để thấy việc nối lần lái như tác giả nói là không thể được:

    Liked by 1 person

    • Trích bài viết “Đêm nay mẹ không về” của đại úy Đỗ Văn Phúc , đã được đưa lên net tháng 1 năm 2010 :
      “Loại M-113 là xe chạy xích có bọc thép dày dùng chuyên chở quân, có thể chạy trên bộ và lội dưới nuớc. Nhưng vì tình hình chiến trường, tất cả quân nhân đều ngồi trên nóc xe thay vì trên hai dãy ghế trong lòng xe như đã được thiết kế. Trên sàn xe trống rỗng là hai lớp bao cát đầy. Người lái xe cũng ngồi trên mui xe, hai tay cầm hai cần lái đã được nối dài bằng hai thanh gỗ tròn. Lý do đơn giản là nếu xe chạm phải mìn chống chiến xa, thì sẽ giảm sự thiệt hại nhân mạng”.
      Ông bạn chẳng biết gì về M.113 nên mới đưa hình đó lên : Trong hình có 2 cần thắng cũng là hai cần lái, cứ kéo ngược cần bên phải tức là thắng bánh bên phải, xe sẽ quay sang phải. Nối cần thắng dài một chút thì ngồi trên nóc có thể kéo cần bên phải hoặc bên trái

      Số lượt thích

  3. năm 1968 tại xã tân phú quan tan binh do khinh dic người mỹ đã tổn thất 2 xe tan m48 bây giờ la quan tân phú
    thoi do nguoi dan trong vung goi noi do la xe tan chay cho thay do nguy hiem cua p40

    Số lượt thích

    • Xin lổi ông bạn khách qua đường năm Mậu Thân 1968 chiến trường VN chưa có tank M48 nha bạn

      Số lượt thích

    • Lai mot ten Ngo nhay vao , biet thi noi khg biet thi dua cot ma nghe , Nam 1968 M 48 nao ? Chac VC nam vung /.

      Số lượt thích

    • Thưa ông khách qua đường
      Theo tài liệu Wikipedia thì : “Vào ngày 9/3/1965, chiếc xe tăng M48A3 đầu tiên của Thuỷ quân lục chiến Mĩ, Tiểu đoàn tăng số 3 cập cảng Đà Nẵng. Đây là đơn vị xe tăng đầu tiên của Mĩ tại Việt Nam và được bổ sung bởi Tiểu đoàn tăng số 1 Thuỷ quân lục chiến sau đó 1 năm”.
      Và theo hồi ký của Tướng tư lệnh quân đội Mỹ tại Việt Nam Westmoreland , bản dịch tiếng Việt của Duy Nguyên trang 259 thì tháng 9 năm 1966 thì Trung đoàn 11 thiết giáp của Mỹ ( xe tăng M.48, Patton ) đã đổ bộ lên VN.
      Tuy nhiên 2 chiếc xe tăng của Mỹ bị cháy tại Tân Bình ( Tân Phú ) vào sáng ngày 1-2-1968 lại là 2 chiếc thiết vận xa M.113 chứ không phải là M.48. ( Theo sách The General Offensive of 1968 của Đại tá Hoàng Ngọc Lung, bản dịch của Kiều Công Cự trang 71. Và tài liệu “Trận Chiến Tết Mậu Thân 1968” của Đại tá Phạm Văn Sơn, giám đốc Nha Quân sử VNCH, được đăng trên trang mạng của binh chủng Nhảy Dù VNCH ).
      Cám ơn ông đã có lòng góp ý cho bài viết.

      Số lượt thích

  4. Bao To quoc cung chang co ai ranh ve kien thuc Quan su va Vu khi nen dang bua Ten Bui anh Trinh nay nhay nhieu De tai ? tu Chinh tri den Quan su , ca hai de tai han dieu copy vun vat thieu det lai va post len bao TQ , toi da theo doi nhieu bai viet cua Han chang thay ra hon , Vua Ngu vua dot , con chen vao tranh cai voi Ong Nguyen Vn ve bai viet TT Thieu .Khg biet han da hoc Can ban Quan su chua ? neu hoc roi thi han cung biet thao rap M16 hay it nhat cung carbine M 1 hahaha

    Số lượt thích

  5. Ông Trinh chỉ cóp nhặt tài liệu ở đâu đó rồi viết bừa Tôi đã từng tham dự trận AN LỘC lúc đó tôi đóng ở XA CAM tiểu đoàn 8 nhảy dù đã hạ T 54 ở đó và 2 chiếc PT 76 cháy lủi vào rừng cao su phía tay mặt tính từ TÂN KHAI về thị xả AN LỘC còn chiếc T54 lủi đầu xuống hố bom bên trái Trận AN LỘC VC thiệt thại rất nhiều T 54 và PT 76 . Còn về hỏa tiển TOW từ đầu năm 1974 mỗi trung đoàn bộ binh đều có trang bị một phân đội hỏa tiển TOW còn về AT3 của VC thì cũng có một sợi dây sau đuôi trái đạn lính mình chỉ cần lấy mủi súng M16 kéo sợi dây quang tuyến đó xuống là trái đạn đó vô hiệu hóa rồi .Trong bài viết trước Ông Trinh viết loại đại bác 155 ly ko6 chính xác trong khi ở chiến trường tôi có thể điều chính tầm pháo 155 làm hỏa lực cận phòng.
    Đề nghị báo Tổ Quốc nên xem lại tên nầy mỗi khi gởi bài đén quí báo vì tên nên ko6 phải là cấp chỉ huy ở mặt trận nên viết bá láp quá

    Số lượt thích

  6. Ong Trinh lay o dau tai lieu ma noi cac Tai xe xe M113 dung can cuoc buoc can lai roi ngoi ben tren ma lai ? cac Chien xa M113 dung luoi sat rao chung quanh than xe de chong hoa Tien B40 khi dong quan , goi la luoi B40 , Trung doan 47 nao bang rung chay ve Binh dinh ha Ong ? tu Tan canh lam sao ma bang rung chay ve Binh dinh ? ong biet bao nhieu cay so khg? kien tuc ve Quan su cua Ong chi gop nhac vao cac Tai lieu cua Mi roi viet bua .Toi nghi Ong nen tham khao them ,sau nay cac xe tang CS gia co them than bang thep day hon nen M72 kg the ban chay o Tam xa hon 100 met , cac yeu diem cua Tang VC duoc nghien cuu va boc them lop sac day hon don gian vay thoi , chang co gi ma ghe gom . M113 bay gio duoc CS tan trang lai do Nam han trung thau no khg loi thoi dau Ong . VNCH chay dai khi gap Tang VC? dung la ong Copy nguyen van cua bon nha Bao Mi that khon nan /.

    Số lượt thích

Góp ý, Thảo luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: