Bài mới trên BÁO TỔ QUỐC

Vài suy nghĩ nhân đọc 2 bài báo trên báo nhà nước VN

Bài báo thứ nhất “Đánh bom khách sạn Caravelle ghi dấu lịch sử” đăng ngày 15.2 trên báo Tuổi Trẻ. Đọc xong tự hỏi: Không hiểu sao đến giờ này mà họ còn tự hào về những chuyện như thế này?

Đánh bom một khách sạn ngay giữa trung tâm thành phố, mặc dù viện cớ là “nơi quan chức Mỹ và Việt Nam cộng hòa thường lui tới hội họp” nhưng cũng có rất nhiều nhà báo nước ngoài, dân thường…rõ ràng là coi thường sinh mạng con người, mà mục đích chỉ là “để đối phương không đắc chí”, nhưng thật ra là đánh ai?

“Có điều việc nổ bom hôm đó đã không như dự kiến bởi hầu hết các nhà báo ở khách sạn Caravelle thay vì đi ăn trưa và sẽ lãnh trọn sức nổ của trái bom, thì họ lại bận rộn theo dõi và tường thuật vụ sinh viên đòi Nguyễn Khánh phải từ chức!”

Đánh bom cả những nhà báo quốc tế, những người chỉ làm công việc của họ là đưa tin về những gì đang diễn ra? Như vậy mục đích thật sự là lấy tiếng, đồng thời gây tâm lý hoang mang xáo trộn trong người dân và phá hoại cuộc sống bình thường ở các đô thị miền Nam, bất chấp sinh mạng những người vô tội, không liên can.

Ai sống ở miền Nam thời hai miền Nam Bắc đánh nhau hẳn còn nhớ, những vụ đánh bom, ám sát…thường xuyên xảy ra tại Sài Gòn và các đô thị miền Nam, tại những nơi đông người như khách sạn, rạp hát, nhà hàng… Điển hình là vụ đánh bom Câu lạc bộ Gôn Sài Gòn năm 1960, vụ rạp hát Kinh Đô bị đánh bom năm 1964, khách sạn Caravelle bị đặt bom năm 1964, nhà hàng nổi Mỹ Cảnh trên sông Sài Gòn bị đặt bom năm 1965, vụ trường tiểu học Cai Lậy (Tiền Giang) bị trúng đạn pháo kích năm 1973…

Một số vụ ám sát như Nguyễn Văn Trỗi đặt bom trên cầu Công Lý, dự định ám sát Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ McNamara năm 1963, ám sát ký giả Từ Chung của tờ Chính Luận năm 1965, ám sát Nguyễn Xuân Chữ, Bộ trưởng Bộ Chiến tranh tâm lý năm 1966, ám sát Trần Văn Văn, Chủ tịch Quốc hội Sài Gòn năm 1966, ám sát giáo sư Nguyễn Văn Bông là Viện trưởng Học viện Quốc gia Hành chánh năm 1971… Ở nông thôn thì đặt mìn, giật sập cầu, phá đường…biết bao nhiêu dân thường phải chết oan.

Những việc làm này có khác gì với những hành động khủng bố của các tổ chức Hồi giáo cực đoan bây giờ? Đừng viện lý do thời chiến tranh. Chiến tranh, hai bên nã súng, ném bom vào nhau ngoài chiến trường là chuyện khác, còn đặt bom, gài mìn, pháo kích vào những chỗ đông người giết hại cả dân thường là khủng bố. Nhưng nếu người miền Nam nói thì người dân miền Bắc hoặc các thế hệ sinh sau đẻ muộn lại không tin, chỉ khi báo chí chính thức hả hê kể lại chiến công như thế này “Những trận đánh nổi danh ‘Biệt động Sài Gòn’ (báo CAND), “Tôi ám sát người sắp làm thủ tướng Sài Gòn” (Dân Việt) hay bây giờ là bài này, “Đánh bom khách sạn Caravelle ghi dấu lịch sử” (Tuổi Trẻ) v.v… thì khỏi còn tranh cãi chuyện có thật hay không nữa!

Bài báo thứ hai “Có một hòa thượng… biệt động Sài Gòn” được báo Tiền Phong đăng lại ngày 19.2 theo nguồn báo An Ninh Thế Giới. Thật ra những loại bài viết ca tụng chiến công “cách mạng”, ca tụng những con người “cách mạng” này lúc nào cũng đầy dẫy trên những tờ báo đậm đặc tính đảng như báo Nhân Dân, Quân đội Nhân dân, Công an Nhân dân, Công An TP.HCM, An Ninh Thế Giới…Không sao kể xiết. Chỉ là nhân tiện đọc và có những suy nghĩ về hai bài báo này mà thôi.

Bài “Có một hòa thượng… biệt động Sài Gòn” viết về nhân vật Hòa thượng Thích Viên Hảo, từng là trụ trì tại chùa Tam Bảo ở đường Dương Công Trường, quận 10, SG, rồi trụ trì Chùa Thiện Hạnh, nằm trong con hẻm nhỏ trên đường Đinh Tiên Hoàng, quận 1, SG cho đến ngày viên tịch 15.7.2005.

Theo bài báo, Hòa thượng Thích Viên Hảo là người tu hành, nhưng lại tham gia “cách mạng”, tham gia biệt động thành, một tổ chức của Việt Cộng trước đây chuyên hoạt động ngầm trong lòng chế độ VNCH từ dò la, do thám tin tức tình báo cho tới đặt bom, gài mìn, ám sát…các nhân vật có liên quan đến Mỹ và chính quyền VNCH nhưng thường cũng gây ra cái chết cho bao nhiêu dân thường vô tội như vừa nói trên. Nhân vật trong bài báo “đi đó đây hành phật sự, gặp các phật tử, đến các chùa… tụng kinh, niệm Phật và thuyết pháp nhưng đó chỉ là vỏ bọc bên ngoài. Thực chất ông đã trở thành chiến sĩ hoạt động cách mạng, có nhiệm vụ dò la địch tình, giao nhận tin tức tình báo…”, còn ngôi chùa Tam Bảo thì “đã trở thành nơi đi về, hội họp bí mật của đội biệt động thành trong một thời gian dài.”

Trong vụ Mậu Thân 1968, vị sư này ”vận chuyển vũ khí, đạn dược về cho cơ sở nội thành tập kết chuẩn bị cho cuộc tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân. Rất nhiều lần, nhà sư dùng xe gắn máy đi Củ Chi chở chất nổ, súng K54, súng và đạn cối 81 ly”

Đã đi tu, thấm nhuần tư tưởng triết lý của Phật giáo, thế nhưng Hòa thượng Thích Viên Hảo đã phạm luôn những giới luật hết sức nghiêm trọng của đạo Phật. Một là gian dối, khi dùng vỏ bọc tu hành để đi hoạt động tình báo, biến những hoạt động giảng giải Phật pháp thành chuyện khác, biến ngôi chùa thành nơi trú ẩn của biệt động thành…Hai là sát sanh, nhà sư tất thừa biết đạo Phật ngăn cấm sát sanh dù chỉ là một con kiến con muỗi, thế nhưng lại chở vũ khí, lên sơ đồ các trận đánh để giết người, cho dù lúc đó ông ta tin rằng đó là kẻ thù, là địch. Không chỉ thế, cả đời nhà sư hoạt động chính trị, được “thưởng nhiều huân chương cao quý của đảng cộng sản” cho đến tận ngày qua đời.

Bài báo này, cũng như bài báo trên Tuổi Trẻ nói trên và rất nhiều bài báo khác nữa, đã tự mình tố cáo những việc làm của đảng cộng sản VN trước đây, đó là đánh phá chế độ VNCH từ trong lòng phá ra, và không từ bất cứ một biện pháp nào từ đặt bom, gài mìn, ám sát, chuẩn bị cho vụ tấn công Tết Mậu Thân 1968, với âm mưu sẽ tổ chức tấn công bất ngờ vào dịp Tết là dịp mà trong nhiều năm hai bên đã có thỏa thuận không chính thức ngừng bắn 3 ngày Tết để đồng bào vui Xuân. Bài báo vẫn tiếp tục ca ngợi những “chiến công” trong cuộc chiến với Mỹ và với miền Nam VN, vẫn gọi địch, chúng…với giọng điệu căm thù.

Trong suốt thời gian chiến tranh và hơn 40 năm qua, năm nào đảng và nhà nước cộng sản VN cũng tổ chức kỷ niệm, ăn mừng tưng bừng, trọng thể những dịp có liên quan đến cuộc chiến, nhất là ngày 30.4. Báo chí truyền thông vẫn được huy động thường xuyên để nhắc nhớ đến chiến thắng của đảng, đến tội ác của “địch”, những cuốn sách, bộ phim về đề tài này vẫn tiếp tục ra đời…như muốn người dân đừng quên.

Một tỷ lệ khác biệt rất lớn cả về quy mô, số lượng và chất lượng tuyên truyền nếu so với việc nhắc nhở đến cuộc chiến tranh biên giới 1979, 1984, hải chiến Hoàng Sa 1974, Trường Sa 1988… với Trung Cộng. Trong khi trên thực tế chế độ VNCH đã “chết” từ lâu không còn là một mối đe đọa nữa, quan hệ Việt-Mỹ đã trở thành bình thường từ nhiều năm qua, thậm chí nhà nước VN còn đang phải trông cậy ở Mỹ rất nhiều để đối phó với mối nguy bị xâm phạm chủ quyền, độc lập toàn vẹn lãnh thổ lãnh hải từ phía Trung Cộng. Ngược lại, Trung Cộng trước đây và hiện nay vẫn luôn và đang là mối đe dọa lớn nhất, kẻ thù thường trực và thâm độc nhất của VN.

Nếu VN lại phải có một cuộc chiến tranh nào xảy ra trong tương lai thì chắc chắn sẽ là cuộc chiến tranh với Trung Quốc chứ không phải với Mỹ, càng không phải với VNCH đã chết. Vậy nhưng nhà nước cộng sản VN lại sử dụng rất ít công sức, nguồn lực cho sự tuyên truyền về những hành động của Trung Quốc trong quá khứ vả hiện tại. Cuộc chiến tranh biên giới 1979 trong rất nhiều năm không hề được nhắc tới một cách công khai, năm nay tuy báo chí đã nhắc tới nhưng vẫn không phải là nhiều, những hành động biểu tình tưởng niệm cuộc chiến này, tưởng niệm việc mất Hoàng Sa Trường Sa hay phản đối những hành độn hung hăng, xâm phạm chủ quyền, quân sự hóa biển Đông của Trung Quốc của người dân đều bị ngăn cấm, đàn áp, nhiều người còn bị bỏ tù, bị trù dập, xách nhiễu…

Liệu có thể xem đó là những hành động khôn ngoan về mặt ngoại giao, bảo vệ chủ quyền của đảng và nhà nước cộng sản VN?

Và đối với mấy triệu người Việt rời nước ra đi vì lý do không chấp nhận chế độ cộng sản, liệu họ có tin tưởng nổi vào những lời nói ngon nói ngọt “xóa bỏ hận thù, hòa hợp hòa giải” của nhà cầm quyền khi báo chí nhà nước vẫn cứ ngùn ngụt căm thù chế độ VNCH như thế?

Còn đối với người dân trong nước, thời buổi bây giờ không phải như trước đây vài chục năm, mười năm, khi người dân hầu hết còn bị bịt mặt bịt tai tin vào những luận điệu tuyên truyền một chiều, bóp méo sự thật của đảng và nhà nước cộng sản. Khi báo chí nhà nước hồ hởi kể lại những hành động khủng bố thời xưa, hay tự thừa nhận những huyền thoại một thời từ Lê Văn Tám, Nguyễn Văn Bé, Nguyễn Văn Trỗi…là không có thật hoặc có những chi tiết không đúng, hoặc được tô vẽ quá nhiều…thì chính là nhà nước này đã tự vả vào mặt mình, củng cố những điều mà người dân đã không còn tin từ lâu.

Trên bình diện quốc tế, chẳng có một quốc gia văn minh nào chấp nhận một nhà nước từng giành chiến thắng bằng mọi giá, mọi thủ đoạn, bất chấp sinh mạng con người cũng như áp dụng chính sách ngu dân, dối trá để giành và giữ quyền lực cả.

Cuối cùng, có lẽ đã đến lúc nhà nước này nên giành công sức tố cáo Trung Cộng-kẻ thù hiện tại và tương lai thay vì cứ say sưa hoài với quá khứ vàng…mã của đảng.

Quảng cáo/Rao vặt

4 Comments on Vài suy nghĩ nhân đọc 2 bài báo trên báo nhà nước VN

  1. HO MAO TANG NI

    SU SAI CONG NO:

    TOI DO CUA DTVN

    Tang-ni Su cong mang xa

    Nam mo tung niem di-da ho Mao

    Hai dan hai Nuoc Viet tao

    Ho Mao su-cong toi do cua DTVN.

    Dan-Tri.

    Like

  2. Tác giả rỏ vô công rồi nghề nên viết mấy bài báo tào lao, bá láp chứng tỏ tác giả chả hiều biết tí gì về chính trị vì:
    1-Mấy tên hòa thượng hổ mang là gián điệp CS cài vô các chùa để che mắt chính quyền chứ đâu phải mấy tên nầy đi tu rồi mới theo CS.
    2- Thế giới đả lên án và đả đảo chế độ CS là ĐẠI HỌA KHỦNG KHIẾP NHẤT CỦA NHÂN LOẠI VA CSVN LÀ ĐẠI HỌA KHỦNG KHIẾP NHẤT CỦA DÂN TỘC VN TRONG 2.000 NĂM LỊCH SỬ. Vì vậy chỉ là PHÍ LỜI

    Like

    • NHAN SINH QUAN

      Da phan su-sai gia tu

      Cong-an xuong toc cao dau:thanh su

      Dan vao cung duong vo tu

      Su Tang cong-phi:quy-xu ac on

      10 su het 9: du con

      Gia nhan gia nghia ma-mon di-da

      Da phan su sai mang-xa

      Xa hoi bang hoai Nuoc nha tan hoang.

      Dan-Tri.

      Like

  3. Khủng bố là mục tiêu của Việt Cộng.

    VIỆT CỘNG CÒN DÃ MAN
    TÀN BẠO HƠN CẢ ISIS

    Lê Duy San
    ISIS là 4 chữ viết tắt của Islamic State of Iraq (Quốc gia Hồi giáo Iraq) được thành lập để chống lại chính phủ Iraq theo Hồi giáo Shia và thân Mỹ. Trong những vùng đã bị quân Hồi giáo ISIS chiếm đóng rất ít tin tức được lọt ra ngoài. Nhưng sở dĩ người ta biết được sự dã man, tàn bạo của chúng là do những tin và hình ảnh giết người do chính chúng đưa ra tuy rất ít nhưng đủ nói lên phần nào cái dã man tàn bạo của chúng. Trái lại, bọn Việt Cộng còn dã man, tàn bạo hơn bọn ISIS nhiều. Nhưng vì chúng khéo che dấu nên ít người biết tới.
    Sau đây, xin kể lại cái chết của hai sinh viên Việt Nam đã đi theo Việt Cộng rồi từ bỏ chúng đã bị chúng lên án tử hình và hạ sát như thế nào cùng cái chết của một viên chức xã ấp và cái chết của 2 sĩ quan VNCH.
    Vụ thứ nhất: Con ông Thẩm Phán Nguyễn Vạng Thọ.
    Thời Đệ Nhất Cộng Hoà, Ông Nguyễn Vạng Thọ nguyên là Chánh Án toà Hoà Giải Rộng Quyền tỉnh Rạch Giá, sau là tỉnh Kiên Giang. Năm 1959, ông được Tổng Thống Ngô Đìng Diệm đồng hoá cấp bậc Đại Tá và cử làm Chánh Thẩm Tòa Án Quân Sự MặtTrận. Ông Thọ được Tổng Thống Ngô Đình Diệm ban cho thanh gươm lịnh “Tiền Trảm hậu tấu”. Đây là một toà án Đặc Biệt được thành lập theo luật số 10/59 nhằm xét xử trong 3 ngày các tội ác chiến tranh chống lại chế độ Việt Nam Cộng Hòa.
    Ông Nguyễn Vạng Thọ có một người con trai duy nhứt được cho đi du học theo kế họach Colombo ở Úc. Cậu này bị nhóm Đoàn Kết, một nhóm sinh viên Việt Cộng ở Úc dụ dỗ nhập bọn.
    Khi cậu ta về nghỉ hè ở Việt Nam ông bà Thọ thấy con ăn nói khác thường, sặc mùi cộng sản. Gặng hỏi mãi mới biết con mình bị nhóm sinh viên Việt Cộng kia nhồi sọ và dụ dỗ gia nhập. Ông bà Thọ đã phải vất vả để tẩy não đầu óc non dại của cậu con và lập tức chuyển cậu ta qua Canada để tiếp tục học. Cậu ta đã nhận ra ngón đòn nhồi sọ, bóp méo sự thật của VC nên không gia nhập họat động với SV đòan kết Canada như năm trước ở Úc. Nhưng bọn chúng vẫn không tha. Chúng nó theo dõi con trai của Ông Thọ đến tận chỗ trọ học ở Canada. Bọn chúng gồm cả 7 đứa dụ khị cậu ta ra công viên vắng vẻ nói là để trao đổi học hành rồi bất thình lình chúng dùng búa Tamahawk (1) để giết chết cậu ta.

                                                   Búa Tamahawk
    

    Chúng bao vây, đập đầu giết chết con ông Nguyễn Vạng Thọ. Xong chúng còn chặt đầu nạn nhân, chắc chúng sợ nhỡ nạn nhân tỉnh lại thì sự việc sẽ bại lộ, nên chúng chặt đứt dầu nạn nhân cho chắc ăn.
    Khi đem xác về Saigon chôn, bọn Việt Cộng còn nhắn tin đe dọa gia đình phải âm thầm chôn cất, chúng hâm dọa sẽ giết cả nhà nếu tin tức được loan tải trên báo chí.
    Đây không phải là giết con để trả thù bố vì nếu muốn trả thù thì chúng đã giết ngay khi cậu ta còn ở Úc mà chỉ là giết người để cảnh cáo cho những ai đã theo chúng nhưng rồi lại bỏ chúng.
    Vụ thứ 2: Con ông Thẩm phán Trần Thúc Linh.
    Ông Trần Thúc Linh cũng là một Thẩm phán từ thời Đệ Nhất Cộng Hoà. Ông còn là Tổng Thư ký Liên Minh Các Lực lượng Dân tộc Dân Chủ và Hòa bình Việt Nam của Luật sư Trịnh Đình Thảo. Đây là một lực lượng do Cộng sản giật dây.
    Ông Trần Thúc Linh có mấy người con học rất giỏi, trong đó có Trần Quốc Chương, sinh viên Đại Học Y Khoa Saigon. Có lẽ anh bị ảnh hưởng của người cha phần nào, do đó có một thời gian Chương đã vào Bưng theo Việt Cộng. Sau anh ta về Thành (Saigon). Nhờ thế lực của bố là thẩm phán nên không bị công an bắt giữ và làm khó dễ. Anh vẫn được đi học lại. Một hôm có hai thanh niên lạ mặt tới trường tìm gặp Chương rồi thấy Chương bị té từ lầu ba xuống đất chết.
    Sau khi Chương bị chết, cảnh sát mở cuộc điều tra, nhưng không ra nguyên do cái chết của sinh viên Trần Quốc Chương.
    Có người cho rằng phe quốc gia giết Chương để dằn mặt ông Linh vì ông Linh thân Cộng và đang làm công cụ cho Cộng sản. Giả thuyết này không vững, vì thiếu gì trí thức miền Nam làm tay sai đắc lực cho Việt Cộng như luật sư Trần Ngọc Liễn, luật sư Ngô Bá Thành, thẩm phán Triệu Quốc Mạnh, giáo sư Đại Học Khoa Học Nguyễn Đình Ngọc, nhà văn Vũ Hạnh v.v.. Vậy mà bản thân họ, chứ đừng nói tới con cái họ, vẫn không bị bạc đãi gì, vẫn hưởng bổng lộc Quốc gia và vẫn thoải mái chống chính quyền Quốc gia! Vậy không lẽ chính quyền Quốc gia lại chỉ thanh toán con ông Trần Thúc Linh? Vậy chỉ có thể là chính Việt Cộng thanh toán Trần Quốc Chương. Vì việc bỏ bưng về thành của Chương không có sự chấp thuận của bưng biền là một sự đào thoát. Một khi đã đào thoát, tức là phản bội. Hoặc giả, trong bưng bọn Việt Cộng đã giao cho Chương một công tác nào đó mà Chương không chấp hành. Như thế cũng là bất tuân lệnh của “tổ chức”. Đó là những tội phải bị trừng trị để làm gương.
    Trên đây chỉ là hai trường hợp điển hình cách giết người hết sức dã man trong hàng trăm trường hợp giết người khác nhau của bọn Việt Cộng đối xử với những người đã theo chúng rồi lại bỏ chúng. Vì thế, những kẻ đã đi theo Việt Cộng, nhất là những kẻ đã vào đảng, những kẻ đã sinh ra và lớn lên trong thời còn chiết tranh, họ đã biết thế nào là sự trả thù của Việt Cộng nên họ rất sợ sự trả thù của Việt Cộng. Do đó chúng ta không lấy làm lạ khi thấy những kẻ gọi là phản tỉnh hay bất đồng chính kiến, mặc dầu đã ra được ngoại quốc sinh sống, họ vẫn không dám có một thái độ, một lập trường dứt khoát với chế độ cộng sản Hà Nội. Đừng đòi hỏi qúa đáng đôi với những người phản tỉnh hay bất đồng chính kiến một khi họ được Việt Cộng cho ra ngoại quốc sinh sống. Họ còn cha mẹ, vợ con còn ở lại trong nước. Biết đâu trước khi đi họ còn phải cam kết sẽ thi hành một nhiệm vụ nào đó cho chúng.
    Vụ thứ 3: Cái chết của gia đình một Xã Trưởng .

    Trong một bài phỏng vấn của Việt Hà, phóng viên đài RFA, ông Uwe Siemon-Netto, ký giả nổi tiếng người Đức, đã trải qua 5 năm phục vụ tại chiến trường Việt Nam. Sau khi theo một đơn vị QLVNCH hành quân giải vây một ngôi làng thuộc tỉnh Định Tường (?) bị Việt Cộng khủng bố năm 1965, ông đã chứng kiến cảnh tượng dã man mà bọn Việt Cộng đã sát hại cả một gia đình viên Xã Trưởng. Ông kể lại như sau: “Người trưởng làng cùng vợ và 11 người con của ông bị treo trên cây, bị giết hại một cách kinh khủng, bộ phận sinh dục của ông bị cắt, lưỡi bị cắt và bị nhét vào mồm. Ngực của vợ ông ta bị cắt. Tất cả bị treo trên cây vào buổi đêm. Đây là cách mà họ cảnh cáo người dân trong làng không nên hợp tác với chính phủ Sài Gòn. Tôi biết chi tiết vì tôi đã vào đó”.

    Cảnh tượng trên đây cũng đã được ông Uwe Siemon-Netto ghi lại trong cuốn “Đức, A reporter’s love for a wounded people, Uwe Siemon-Netto, page 77, 78” như sau: “Xác xã trưởng, cùng nguời vợ và 12 đứa con vừa trai, vừa gái kể cả cháu bé bị treo lủng lẳng trên các cành cây sào trong sân làng… Dân làng kể lại, họ bị VC bắt tập họp lại để chứng kiến cảnh tàn sát này. Việt cộng bắt đầu giết em bé nhất rồi lần lượt giết các em lớn hơn, kế tới người mẹ và sau cùng là nguời cha, viên xã trưởng. Việt cộng đã giết cả nhà 14 nguời, giết một cách lạnh lùng như thể bấm cò súng đại liên bắn máy bay…”.
    Vụ thứ 4: Cái chết của nhà văn Y Uyên.
    Y Uyên, tên thật là Nguyễn Văn Uy , sinh năm 1943 tại làng Dục Nội, huyện Đông Anh, Hà Nội. Năm 1954 anh cùng với gia đình di cư vào Nam, cư ngụ tại Hạnh Thông Tây, Gò Vấp.
    Anh tốt nghiệp trường Quốc gia Sư phạm Sài Gòn năm 1964, dạy học tại Tuy Hòa. Năm 1968 động viên khóa 27 Sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Mãn khóa anh được chuyển về đóng tại Nora, Phan Thiết. Không lâu sau đó bỏ mình trong trận phục kích bên dòng suối dưới chân núi Tà Lơn, tỉnh Bình Thuận, Phan Thiết ngày 8.1.1969, hưởng dương 27 tuổi
    Là trai thời chiến, lại là một người lính chiến, thì chuyện gục ngã nơi sa trường là chuyện thường. Nhưng cái chết của chuẩn úy Nguyễn Văn Uy không phải là một cái chết bình thường. Đoạn văn trích dẫn dưới đây là của bạn bè nhà văn Y Uyên nói về cái chết bi thảm của anh do bọn lính Việt Cộng đã gây cho anh. Xin trích một đoạn trong bài “Núi Tà Dôn và dấu chân Uy” của Lê Văn Chính (Sương Biên Thùy) đã đăng trong Tạp Chí Văn, số 129, phát hành ngày 1 tháng 5 năm 1969 – Tưởng Nhớ Y Uyên.
    “Tôi nghĩ Uy sẽ không bị chết nếu bị bắt, nếu Uy biết cách nói cho những người ở phía bên kia biết Uy là một nhà văn. Tôi cũng nghĩ đến trường hợp, sau khi bị bắt, Uy sẽ được ra Hà Nội, và guồng máy tuyên truyền phía bên kia sẽ khai thác nhà văn của chúng ta. Nhưng tất cả những điều tôi tưởng tượng đều trái ngược với thực tế, một thực tế phũ phàng, tàn nhẫn: Y Uyên, sau khi chết rồi, còn bị bắn bồi mấy phát súng ở mắt, tai và đâm bồi thêm mấy nhát dao ở hai cánh tay và hai bên hông.”
    “Tôi không có mặt khi bạn hữu tẩm liệm chàng, nhưng Học nói lại những nhận định như thế khi quan sát xác chết với những đầu đạn, dấu dao trên mình chàng. Có những dấu đạn người ta biết được là từ đâu, như thế nào, và ngươi ta cũng biết được những dấu đạn nào là vô ích, là của hận thù. Trên thân xác của Uy, khi chở về Quân y viện, có những dấu đạn thừa, những dấu dao vô lối. Những dấu đạn, vết dao không thể cắt nghĩa được. Nếu không phải là chúng có từ những thù hận ghê gớm, những chất ngất căm hờn, thì không thể làm sao tìm ra lý do giải thích sự hiện diện của chúng trên thân hình một người đã chết.”
    “Từ những dấu đạn vết dao đó, tôi có một nhận định về những người ở bên kia chiến tuyến. Tôi không hiểu bằng cách nào, trong cuộc chiến tương tàn, ròng rã hơn hai mươi năm này, những người lãnh đạo cộng sản đã dạy cho binh lính của họ như thể nào để lòng thù hận chất ngất mênh mông đến thế? Tôi chấp nhận những viên đạn thứ nhất là hợp lý – Ừ, thì cứ cho là hợp lý. Nhưng những viên đạn bắn bồi, những nhát dao đâm thêm trên một xác thân đã chết là những viên đạn, những nhát dao không thể cắt nghĩa, không thể chấp nhận được. Những người Cộng sản Việt Nam đã làm những điều dã man như thế, khởi đi từ lòng thù hận, từ sự cuồng tín. Từ đó, chúng ta có một nhận thức mới, họ mù quáng trong khi chiến đấu, họ không mảy may hiểu về những căn nguyên cuộc chiến tương tàn này.”
    Vụ thứ 5: Cái chết của một gia đình Trung Tá Nguyễn Tuấn.
    Vào sáng ngày mồng 2 tết Mậu Thân 1968, tên đặc công Việt Cộng Nguyễn Văn Lém tự Bẩy Lốp chỉ huy một đơn vị đặc công tấn công trại Phù Đổng của binh chủng Thiết Giáp ở Gò Vấp. Sau khi chiểm được trại gia binh, Bảy Lốp bắt giữ gia đình Trung Tá Nguyễn Tuấn và bắt Trung Tá phải chỉ dẫn cách xử dụng các xe tăng còn để lại trong trại. Trung Tá Tuấn từ chối, thế là Bảy Lốp giết chết toàn thể gia đình ông, gồm cả một bà mẹ già 80 tuổi. Chỉ có một bé trai 10 tuổi bị giết nhưng chưa chết được cứu sống.
    Ông Cao Hồng Lê, tác giả bài “Đón Xuân này, tôi nhớ Xuân xưa” (2) cho biết : “Một Trung Úy Thiết Giáp đưa Tướng NN Loan vào Trại Gia Binh để ông Tướng thấy cảnh vợ con binh sĩ ta bị VC sát hại. Sau khi đến thăm một số nhà binh sĩ có người bị VC giết, nhiều xác người chưa được mang đi, còn quàn tại chỗ, Tướng Loan nói ông có người bạn cùng khóa là Đại Tá Tuấn, Binh Chủng Thiết Giáp, đã giải ngũ nhưng không có nhà riêng ở ngoài thành phố, nên cả gia đình vẫn ở trong Trại Gia Binh này. Ông bảo ông Trung Úy Thiết Giáp đưa ông tới nhà Đại Tá Tuấn. Tôi đi theo đến một hầm trú ẩn. Hầm này vốn là cái xác của chiếc xe M113 đã phế thải, Đại Tá Tuấn xin về đặt bên cạnh nhà, đắp thêm bao cát bên ngoài, cho vợ con ông làm hầm tránh pháo kích của bọn VC”.
    “Khi mở cửa hầm ra thì… tôi rởn tóc gáy trước cảnh tôi nhìn thấy cả gia đình Đại Tá Tuấn vẫn còn nằm trong hầm. Máu ngập cao cả chục phân tây, kín cả cái sàn xe thiết vận xa phế thải. Trong vũng máu là 8 xác chết, đủ cả đàn ông, đàn bà, trẻ con, người nào cũng bị chém đầu lìa khỏi cổ. Cả đến đứa cháu ngoại, mới 3 tuổi của Đại tá Tuấn về ăn Tết với ông Ngoại cũng bị VC chặt đầu”.

                      Đám tang cả gia đình Trung tá Nguyễn Tuấn bị tên đặc công Lém giết.
    

    Trên đây chỉ là năm vụ điển hình trong trăm ngàn vụ giết người một cách dã man và tàn bạo của bọn Việt Cộng mà ông Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam đã dậy chúng. Điều ngạc nhiên và đáng thắc mắc ở đây là không hiểu tại sao ông Trần Thúc Linh, thân phụ của anh Trần Quốc Chương, một trí thức và 2 em của anh Nguyễn Văn Uy tức nhà văn Y Uyên là Nguyễn Văn Nhã, Nguyễn Văn Hương (có cha bị Việt Cộng lên án tử hình khiếm diện) đã hưởng nhiều ân huệ của VNCH, có con, có anh bị Việt Cộng giết dã man như vậy lại có thể cúi đầu nhẫn tâm làm tay sai cho giặc Cộng ?

    Chú thích.
    (1) Tomahawk, một loại búa nhỏ mà người da đỏ hay xử dụng trong các phim, ném rất xa để giết địch thủ.
    (2) CON ONG, bán Nguyệt San ấn hành ở Houston, Texas. Số 179. Tháng 2, 2006.

                                                                                                                      Lê Duy San
    

    Like

Góp ý, Thảo luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: