Bài mới trên BÁO TỔ QUỐC

Bản chất và gía trị của công hàm 14-9-1958

Có lẽ, một câu hỏi đã đến với bạn ngay sau khi đọc xong cái tựa đề là: Bản chất của Công Hàm 14-9-1958 là gì? Rồi “Gía trị của cái Công hàm 14-9-1958 ra sao?

Tôi xin được trả lời ngắn gọn trước là: Bản chất của Công Hàm này là gian trá và lừa đảo. Và gía trị của Nó là bán nước và rồi mất nước!I.

I. Làm sao có thể như thế được chứ?

Hôm rồi, sau bài viết “Hoàng, Trường Sa về đâu?”, tôi có nhận được một câu hỏi của bạn đọc như sau: “PVĐ ở cương vị Thủ tướng, có đủ tư cách pháp nhân để đơn phương xác nhận HS, TS thuộc chủ quyền của Trung cộng hay không?” Để trả lời câu hỏi này, tôi cho là trước tiên chúng ta phải xác định về vị trí của HS và TS đã, sau đó mới là phần trả lời.

Tập "Bản đồ Thế giới" do Cục Đo đạc và Bản đồ Phủ Thủ tướng Việt cộng in ấn xuất bản tháng 5/1972 đã ghi chú quần đảo Tây Sa, Nam Sa bằng tên gọi do Trung Quốc đặt. (nơi có gạch đỏ, Qđ Tây Sa, Qđ Nam Sa).

Tập “Bản đồ Thế giới” do Cục Đo đạc và Bản đồ Phủ Thủ tướng Việt cộng in ấn xuất bản tháng 5/1972 đã ghi chú quần đảo Tây Sa, Nam Sa bằng tên gọi do Trung Quốc đặt. (nơi có gạch đỏ, Qđ Tây Sa, Qđ Nam Sa).

Như tấm bản đồ của nhà cầm quyền Hà Nội mà tôi đưa ra ở trên (xuất bản 1972), thì không có một địa danh, hay quần đảo nào tên là Hoàng Sa và Trường Sa nằm ở trong tấm bản đồ chính thức được lưu truyền trong các cấp, cũng như trong nhân gian dưới quyền hành chánh của tập đoàn lãnh đạo cộng sản bắc Việt.  Trái lại, ở miền bắc Việt Nam lúc bấy giờ, họ đã in và dùng chung một tên gọi với Trung cộng là quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Xa thay vì Hoàng Sa và Trường Sa. Như thế, chính cái tên gọi chung này cũng khả dĩ xác định một ý đồ chung quyết không ngay tình giữa hai tập đoàn này trong sự quyết định của họ. Nên khi trả lời câu hỏi trên, chúng ta cần phân rõ ý định của CSBV trong sự việc là:

  1. CS/BV đã lệ thuộc hay cùng đồng thuận với Trung cộng trong việc gọi tên các nhóm đảo của Việt Nam ở Biển Đông.
  1. Trong quy chế hành chánh, địa lý, CSBV đã hoàn toàn từ bỏ cái tên gọi truyền thống có từ trước mà Việt Nam Cộng Hòa luôn tiếp tục giữ gìn.

Hai điểm này, nhìn thóang qua, chúng ta cho là chuyện nhỏ. Nhưng tự nó lại trở thành mấu chốt của vấn đề. Trước hết, để thống nhất, cả đôi bên gồm CSBV và Trung cộng đều sử dụng chung một cái tên gọi là Tây Sa và Nam Sa dành cho hai quần đảo này. Thứ hai, Công Hàm của Phạm văn Đồng đã tựa vào “văn thư” của Trung cộng và đã dùng bản đồ của CSBV và Trung cộng làm chuẩn mực trong quyết định của họ. Từ đó, hai văn thư này cấu thành sự kiện hai quần đảo này thuộc về TC và không thể có tranh chấp về sau giữa đôi bên. Nó cũng đồng thời tạo ra ý định chắc chắn bởi việc Nhà cầm quyền Cộng sản tại bắc Việt Nam đã hoàn toàn chối bỏ, hay làm như không hề hay biết gì đến hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, và đương trực thuộc quyền quản lý của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tại miền nam do Hiệp Định Geneve năm 1954 ràng buộc. Chính sự gian trá, chối bỏ, hay gỉa vờ như không biết này đã cấu thành tội phạm bán nước của Phạm văn Đồng, cũng như của tập đoàn lãnh đạo tại Hà Nội.

II. Hiệu lực của bản văn.

Trở lại phần câu hỏi trên. Theo nguyên tắc, bất cứ một văn bản nào đó, dù là ngoại giao hay nội bộ, có dấu ấn, chữ ký của Thủ tướng hợp pháp và đương quyền, nó thường có một giá trị nhất định trong thi hành (ít nhất cho đến khi có văn bản đồng cấp khác thay thế). Về nội bộ, khi Thủ Tướng ra một quyết định nào đó liên quan đến vấn đề điều hành hành chánh, ban thưởng, phân chia, bản văn ấy nhất định phải có gía trị để thi hành. Thí dụ, như đưa ấp B nhập vào xã A, thuộc quận C thay vì quận D như trước. Bản văn thành sự và phải có gía trị thi hành.

Về ngoại giao, một văn thư của Thủ tướng gởi cho một vị đồng cấp ở một nước khác, thỏa thuận theo hay khước từ những Điểm trong văn bản họ nêu ra, bản văn thư ấy cũng phải có gía trị thi hành. Thí dụ như, sau khi Phạm văn Đồng nhận được Công bố của Chu ân Lai, xác định hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tên theo bản đồ của nhà nước Việt cộng) là thuộc chủ quyền của Trung cộng. Bản văn trả lời của Phạm văn Đồng nếu có kèm theo chức vụ đương quyền, con dấu của nhà nước xác minh. Bản văn ấy nhất định phải có gía trị thực tế với cả đôi bên (dù là đồng thuận hay không thuận). Trừ trường hợp nhà nước đương quyền xác định ngay sau đó là Phạm văn Đồng vô năng. Lý do, tuy có hàm Thủ tướng, nhưng đang bị quản thúc để điều trị ở trong nhà thương điên và Y đã tự tạo ra cái mộc bằng củ khoai mì. Khi đó, bản Công Hàm ấy có thể bị giải trừ gía trị! Hoặc gỉa, nhà nước Việt cộng phải chứng minh bằng văn bản đồng cấp hay cao hơn là: Văn bản của PVĐ được làm và gởi đi bởi một cách lén lút, không một ai biết đến và nay PVĐ đã bị ngưng chức và bị truy tố vì lạm quyền. Nếu không chứng minh được những sự kiện như bệnh lý, gian trá theo luật định, tôi cho rằng bản văn đề ngày 14-9-1958 của Phạm văn Đồng (dù trong gian trá) gởi cho người đồng cấp Chu ân Lai vẫn thành sự, và có giá trị thi hành đối với CS miền bắc. Nghĩa là không thể chứng minh nó vô gía trị. Tại sao?

  1. Về thời gian chứng minh: Cho đến nay, nhà nước Cộng sản VN chưa bao giờ nêu ra,  chứng minh công khai cho đối phương biết là Phạm văn Đồng đã bị bệnh điên loạn, vô năng, bị giải nhiệm từ ngày… (trước hay sau) ngày ký bản văn gởi đi là 14-9-1958. Điều đó cho thấy PVĐ không bị truất, bị bãi nhiệm vì vô năng.
  1. Nhà cầm quyền tại miền bắc (theo giấy tờ) bao gồm cả Hành pháp, Tư Pháp, Lập pháp đã chưa bao giờ lên tiếng bằng văn thư đồng cấp phủ nhận gía trị của bản Công Hàm này trong thời gian luật định.
  1. Bản văn hoàn toàn có tính cách tự nhiên, không bị ép buộc, không có chứng cớ bị bạo hành từ người đồng cấp ở phía bên kia hay từ phía nội bộ.
  1. Ở một chiều khác, Bản văn rất đầy đủ, trọn vẹn, không tỳ vết, được xác định và trả lời theo một văn bản đồng cấp từ đối tác yêu cầu. Theo đó, Nó có gía trị, hiệu lực để thi hành.

Dẫn chứng: Văn thư do TC gởi đi:

 “Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa nay tuyên bố:

(1) Bề rộng lãnh hải của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ, quần đào Đông Sa, Quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.

(4) Ðiều (2) và (3) bên trên cũng áp dụng cho Đài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc”. (wikipedia)

Nhìn chung, đây là một bản văn tuyên bố khơi khơi, không gởi đích danh cho một chính phủ nào. Theo nghĩa, tự nó không trói buộc việc phải trả lời. (tôi không đọc được bản nào TQ gởi đích danh cho CS/VN. Nếu ai có xin đưa lên cho bà con cùng đọc, cám ơn). Nếu chỉ có bản này, nó không ràng buộc những quốc gia có chủ quyền, dù được nhắc tới trong bản văn phải lên tiếng minh thị, trả lời. Tuy nhiên, trong phận làm nô lệ như CS Bắc Việt lại khác. Hẳn là sau những cuộc họp thâu đêm, Phạm văn Đồng, Thủ tướng của nhà nước ấy đã được phép công khai hóa sự kiện thành bản văn đồng cấp như sau:

Chính Phủ Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa

Công Nhận Quyết Định về Hải Phận của Trung Quốc

“Thưa Đồng chí Tổng lý,

Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, quyết định về hải phận 12 hải lý của Trung Quốc.


Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng.

Hà Nội ngày 14 tháng 9 năm 1958, thủ tướng Phạm Văn Đồng.”

Một câu hỏi trực diện cần đặt ra ngay là: Việt cộng còn lại gì để nói sau khi bản văn thư thuận tình này được gởi đi? Theo tôi, tất cả đã chấm dứt tại điểm gian dối và tráo trở này. Nói cách khác, không cần phải nhờ giải thích, mọi người biết đọc, biết viết, đều biết bản văn này không thể bị lật ngược, không thể bị coi là vô gía trị. Bởi lẽ:

Thứ nhất. Đối nội, nó hoàn toàn chối bỏ hoặc phủ định hai quần đảo này, tuy khác tên, nhưng trực thuộc nước Việt Nam và hiện thời do chính phủ Việt Nam Cộng Hòa bảo quản theo bản hiệp định Genève 1954 về Việt Nam.

Thứ hai: Đối ngoại, nó xác định hai quần đảo mang tên Tây Sa và Nam Sa này trực thuộc về Bắc Kinh và nhà nước “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” phải tôn trọng.

Thứ ba: Đó là một bản văn hành chánh trong điều hành và theo hệ tổ chức cấp chính quyền. Nó trở thành một bản văn chung kết, không cần phải thông qua nghị hội. Nó có hiệu lực để thông báo, thi hành (cho cả đôi bên).

Ở đây, nếu nhìn lại diễn tiến. Chúng ta thấy bản văn này không ngẫu nhiên mà có. Nó không phải là tiếng nói đơn côi một mình. Trái lại, nó đã có sự bàn thảo, đồng thuận giữa đôi bên từ rất lâu trước đó. Theo tờ Far Eastern Economic Review ngày 2/10/1979, dưới tiêu đề Paracels Islands Dispute, tác giả Frank Ching cho biết tháng 6 năm 1956, Thứ trưởng Ngoại Giao nhà nước Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam là Ung Văn Khiêm đến gặp Li Zhimin, đặc sứ của Trung Cộng tại Hà Nội, xin Trung Cộng ủng hộ vũ khí và nhân sự để Việt cộng mở chiến tranh vào Nam Việt Nam. Trong cuộc gặp gỡ này, Ung Văn Khiêm đã nói: “Theo các dữ kiện lịch sử Việt Nam, hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa thuộc lãnh thổ Trung Quốc”. Rồi Lê Lộc, Chủ Tịch Châu Á Sự Vụ, nhân có mặt cũng nói vào: “Theo sử liệu VN thì HS và TS thuộc TQ từ thời nhà Tống”.

Tuy nghe thế, những lời nói này chẳng làm cho Trung cộng hài lòng, nên mấy hôm sau, Phạm Văn Đồng, với tư cách là Thủ tướng, xác nhận những lời của Ung Văn Khiêm như sau: “Căn cứ trên sử quan, những hòn đảo này nằm trong lãnh thổ của Trung Quốc.” Từ lời mở đầu này đến cái Công Hàm được ký vào ngày 14-9-1958 là một chuỗi thời gian dài hơn 2 năm. Chứng tỏ tập đoàn CS/BV đã có một chủ kiến nhất định về việc sử dụng cái tên Tây Sa và Nam Sa theo Trung cộng, thay vì Hoàng Sa và Trường Sa trong sổ sách của Việt Nam.

III. Những điểm quan trọng cần lưu ý trong bản Công Hàm:

  1. Chối bỏ trách nhiệm liên đới trong quyền sỡ hữu với 2 quần đảo này.

Trước hết bản văn viết ‘Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, quyết định về hải phận 12 hải lý của Trung Quốc”. Với lời lẽ này, nhà nước CS bắc Việt cho thấy là họ đã hoàn toàn vâng phục theo ý chí và ngôn từ trong bản văn của TC gởi đi. Kế đến là họ đã phủ nhận trách nhiệm liên đới với 2 quần đảo này, hoặc gỉa, làm như hoàn toàn không biết gì đến Hoàng Sa, Trường Sa đã được ghi ở trong bản Hiệp Định Geneve ngày 20-7-1954, và đang nằm trong sự quản trị của Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa tại miền Nam Việt Nam.

Như thế, phải nói ngay rằng, không có một lý lẽ nào khả dĩ đứng vững để chối bỏ trách nhiệm của bản văn theo kiểu suy diễn của một số “trí thức” không sạch nước cản của tập đoàn CS/BV. Họ cho rằng, trong văn thư của PVĐ không nhắc đến chữ Hoàng Sa và Trường Sa. Hoặc gỉa “về mặt pháp lý quốc tế, thủ tướng PVĐ không có trách nhiệm quản lý phần lãnh thổ phía nam” (Ts Nguyễn Nhã) là thoát trách nhiệm ư? Thật là đáng buồn cười! Họ trẻ con, không dám nhắc đến chữ Hoàng Sa, Trường Sa để bảo vệ đã là sai, là gian dối. Rồi họ viết “không có trách nhiệm” liên đới quản lý phần lãnh thổ ở phía Nam vĩ tuyến 17 là chối bỏ quyền sinh sống của người Việt trên đất Việt. Đã sai thế, họ còn gian trá đổi tên Hoàng Sa và Trường Sa thành cái tên Tây Sa và Nam Sa theo ý chí của Trung cộng.  Rồi càng sai khi xác minh một cách hàm hồ trong văn bản ngoại giao của họ là: “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa” để Việt Nam mất đất mất đảo, phần họ trở thành kẻ bán trộm đất nhà người!

  1. Điểm then chốt thứ 2 trong bản văn của PVĐ.

Việc xác định:” Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển.” là một trọng tội với Việt Nam. Bởi vì anh đi tôn trọng cái không có, tôn trọng cái gian tà. Chính sự kiện tôn trọng cái gian tà này trở thành sự kiện ràng buộc mà tập thể CS/BV không thể tháo gỡ. Đồng thời trở thành một tội phạm bán nước dù lúc đó Hoàng Sa, Trường Sa không thuộc quyền quản lý của miền bắc.

Thử hỏi, nếu Trung Quốc viện dẫn Công hàm Phạm Văn Đồng để nói rằng Việt Nam công nhận chủ quyền Trung Quốc trên các quần đảo Nam Sa và Tây Sa, điều này đúng hay sai? Có hai cách giải thích:

Đúng. Đúng và ràng buộc trên cả danh nghĩa và tên gọi theo bản đồ chỉ dẫn của hai nhà nước VNDCCH và CHNDTH. Sai, nó không có năng lực trói buộc Việt Nam Công Hòa hay một chính phủ khác không thuộc diện nối tiếp cái ghế của Phạm văn Đồng để lại.

Như thế, nội dung công hàm của Phạm Văn Đồng có cấu thành một thực tế để được thừa nhận, có gía trị hay không? Theo luật pháp quốc tế, nếu một bên đã ra một tuyên bố thì không thể nói ngược lại cái tuyên bố của mình, làm ảnh hưởng tới lợi ích của bên kia. Theo định nghĩa này, Công hàm của Phạm văn Đồng đã cấu thành một thực thể được thừa nhận. Từ đó, chính phủ của VC theo truyền thống và nối tiếp công việc của Phạm văn Đồng phải bị trói buộc vào cái công hàm của Y đã ấn ký và xác minh.

Liệu có một phương cách đơn phương nào để tháo gỡ?  Chỉ có hai trường hợp. Thứ nhất. Nhà cầm quyền Hà Nội phải chứng minh được sự thiểu năng về bệnh lý, hay điên dại của Phạm văn Đồng ngay sau khi bản văn trên xuất hiện.  Thứ hai, Việt Nam có một chính phủ khác không nằm trong hệ thống tiếp nối thể chế của nhà nước CS.

  1. Vai trò của Hồ chí Minh trong công hàm.

Người ta không nhắc đến, không quy trách nhiệm của HCM trong công hàm bán nước do PVĐ ký là sai, hoàn toàn sai. Nhưng không vì thế mà Y thoát tội. Bởi lẽ, PVĐ đã không thể tự mình quyết định, ông ta chỉ làm nhiệm vụ thông tin cho TC mà thôi. Nói cách khác, bản thân ông ta có muốn làm hay không cũng không được. Lý do, ai cũng biết. Về mặt nhà nước, HCM cũng gọi là Hồ Quang là chủ tịch nước, đứng đầu chính phủ và kiêm nhiệm chức vụ Thủ tướng.  Mãi đến năm 1955 chức vụ TT được chuyển giao cho Phạm văn Đồng. Phần HCM làm chủ tịch nước cho đến khi tay bắt chuồn vào ngày 2-9-1969. Về mặt đảng, Hồ Quang cũng là chủ tịch đảng cho đến chết (1969).  Theo đó, PVĐ chỉ ở vị thế thừa hành. Ký thì sống và mang nhơ danh với đời là kẻ bán nước. Không ký thì…. chết! Chết trong khí tiết!  PVĐ đã chấp nhận ký thì Y cũng phải chấp nhận xú uế của đời! Phần HCM cũng không phải vì không ký mà không có tội.

V. Hướng đi nào cho Trường Sa và Hoàng Sa?

Nhìn chung, CS không có một điểm tựa nào để tranh luận với Bắc Kinh. Tệ hơn, Việt cộng còn luôn muốn lệ thuộc và cậy nhờ vào Bắc Kinh. Nên CS /BV không có chọn lựa nào khác ngoài 2 cách méo mó sau đây:

Trước hết, cố gắng khoa trương ngôn ngữ và bảo đó là của Việt Nam để lừa đảo dân chúng cho qua ngày. Kế đến, vì phải tựa đầu vào Trung cộng để giữ lấy quyền lực, nên Cộng sản Bắc Việt luôn cương quyết ra tay đánh đập và bắt bớ những người đi biểu tình với biểu ngữ Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Đó là 2 cách CSBV thường làm. Nhưng xét cho cùng, Cộng sản BV cũng chỉ có thể áp dụng hai phương cách này.  Bởi vì, họ tự biết việc ký giấy công nhận Tây Sa, Nam Sa (Hoàng Sa, Trường Sa) là của Trung cộng từ 1958 là không thể tháo gỡ. Từ đó, CSBV luôn tìm cách đánh bùn sang ao theo kiểu ấu trĩ, gõ mõ qua ngày như:

 “… Hiện nay Việt Nam đang là nước yếu, chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa như thế nào thì không nên nôn nóng, để đến trăm năm hoặc nghìn năm sau con cháu chúng ta đòi lại cũng vẫn được. Ai có quan điểm khác với quan điểm trên đều là sai trái và chỉ phục vụ mục đích của một số cá nhân (Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Quang Ngọc – viện trưởng viện Việt Nam học và Khoa học phát triển). Qủa là tủi hổ cho một danh vị “tiến sỹ”! Không ai ngờ đất nước tôi dưới bàn tay nhào nặn của cộng sản lại đẻ ra những kẻ thô bỉ đến thế. Họ đua nhau xin làm nô lệ, rồi hy vọng ngàn năm sau có người cứu nước ư! Chưa hết, “Ta như thế này. Thì bà con thấy ta đánh với họ được không? Ai tài giỏi thì thử ra đó xem có thắng không” (thượng tướng Huỳnh ngọc Sơn phó chủ tịch quốc hội).  Phục chưa?  Chế độ CS ưu việt sao lại đẻ ra toàn những con lươn con trạch như thế?  Ấy là chưa kể đến Lê Duẫn, một TBT “u minh” của CSBV đã từng cúi gập mình trước mặt Mao trạch Đông mà xưng tụng: “chúng tôi đánh Mỹ, đánh miền Nam là đánh cho Trung quốc, đánh cho Liên Sô”! Bạn nghe rõ chưa?

Từ đó cho thấy, ý chí của họ là chấp nhận làm một cuộc giết mướn, chiếm đất của Việt Nam như một cuộc đánh thuê để lấy tiền. Làm gì có chữ Tổ Quốc Việt Nam trong mắt môi đoàn đảng viên cộng sản? Nếu bảo là có thì họ đã bị lừa!  Với chủ trương này càng cho thấy cái Công Hàm của Phạm văn Đồng chỉ là bước mở đường, nó không phải là đoạn kết hay là tự ý cá nhân. Trái lại, đã được bàn thảo rất kỹ lưỡng trước khi Phạm văn Đồng được phép ký tên và gởi đi. Theo đó, việc CS lấy tên là Nam Sa và Tây Sa trong bản đồ thay vì Hoàng Sa và Trường Sa đã là một chủ đích rõ ràng trong sự kiện đồng hóa theo Tàu của CSBV. Họ không thể chối bỏ trách nhiệm trước lịch sử.

Đến đây, điều chúng ta có thể nói và nói với các cấp lãnh đạo cộng sản một cách quang minh rằng: Những huyênh hoang từ đánh thắng hai đế quốc sừng sỏ của thế giới là Pháp và Hoa Kỳ, và từ những vinh quang trên đỉnh chém giết đồng bào của họ như thế đã qúa đủ rồi, hãy dừng lại đi. Bởi vì, loa đã rỉ xét, ngưòi chết đã chết, và cái túi tham bạc ròng của họ cũng qúa nặng rồi. Hơn thế, bài ca của những kẻ buôn bán máu xương của dân tộc, từng tựa vào lòng Trung cộng để kiếm sống, đến nay đã bị phơi bày trọn vẹn, nó không còn gía trị lừa bịp. Nghĩa là, họ không thể tiếp tục con đường buôn bán máu xương và danh dự của Việt Nam bằng những cái loa mồm được nữa. Trái lại, họ phải biết lịch sử của Việt Nam phải được tôn vinh. Phải được tồn tại trong sự thật, trong vững bền. Phần những lừa dối dù hào nhoáng đã đến lúc phải bỏ đi. Không thể diễn thêm tuồng được nữa.

Điều khẳng định này có nghĩa, Công Lý phải thuộc về dân tộc Việt Nam. Những tội buôn dân, bán nước của cộng sản, của Hồ chí Minh, của Phạm văn Đồng, Trường Chinh, Lê Duẫn, của những Lê chiêu Thống, Trần ích Tắc… đều phải dạt vào trong góc khuất.  Tất cả được xếp lại như bài học răn đe cho hậu thế. Từ đó, những kẻ cầm cái búa của Hồ Quang đè trên đầu trên cổ nhân dân Việt Nam phải hiểu rằng, gian trá nào rồi cũng có ngày kết và cái ngày của 2020 không còn xa lắm. Họ phải biết cứu lấy chính mình bằng cách trở về với cội nguồn dân tộc trước khi qúa trễ. Vì chính họ cũng biết rằng, lấy tiền của của nhân dân để xây những tượng đài Hồ Quang trên đất Việt để hưởng lộc Tàu, không thể bảo vệ cho cuộc sống của họ dài lâu. Trái lại, nơi đó có thể là nấm mồ dành cho những kẻ phản bội dân tộc và tổ quớc Việt Nam. Bởi lẽ, Lịch sử là một bánh xe luôn luôn chuyển động. Nó không thể ngừng lại và nằm yên trong tay của một người nào. Hơn thế, là một thẩm phán công minh.

VI. Để kết.

Mất, là điều chúng ta không thể chấp nhận vào ngày hôm nay, nhưng với tập thể cộng sản này thì cũng không có tư cách gì để nói đến chữ lấy lại. Chỉ còn chúng ta và con cháu chúng ta, những người Việt Nam máu đỏ da vàng theo dòng dõi của những Quang Trung, Hưng Đạo Vương, Ngô Quyền, Nhị Trưng… phải tự khắc phục lại Thăng Long mà thôi. Như thế, chúng ta phải bảo vệ, phải nuôi lấy ý chí giải phóng quê hương và dân tộc Việt Nam ra khỏi kiếp nô lệ của cộng sản. Từ đó, chúng ta sẽ cùng nhau xây dựng một đời sống trong an bình dựa trên căn bản: Dân Tộc, Dân Sinh, Dân Quyền, Dân Quyết. Ở đó, chúng ta cùng chung tay trong một bước tiến Dân Chủ, Tự Do, Nhân Quyền, Công Bằng và Bác Ái.  Và cùng chung một ý chí sống trong một quốc gia có Độc Lập, có chủ quyền. Đó là con đường duy nhất khả dĩ đưa đất nước và dân tộc Việt Nam vào vận hội mới cùng sống Hòa Minh với thế giới.  Sau đó, xé toạc cái tờ giấy bán nước nhơ bẩn của Hồ chí Minh do Phạm văn Đồng đã ký vào ngày 14-9-1958 để chúng ta kiến nghiệp lại với non sông. Từ đó, có cơ may đưa Hoàng Sa, Trường Sa liền lại với một giải non sông Việt Nam.

Bảo Giang

11-3-2016.

Quảng cáo/Rao vặt

8 Comments on Bản chất và gía trị của công hàm 14-9-1958

  1. SƠN CHẾT CĂM HỜN
    *
    Trung tá Sơn ôi trung tá Sơn
    Lao lung thật kí sự căm hờn
    Tháng ba 79 Gia Trung hận
    Bề hội đồng trận cộng lên cơn
    *
    Côn đò quản giáo bôi trơn côn an giám thị cô hồn Nguy sỹ quan
    Cùng trong thạch thất rệp sàng
    Toàn thân bất toại lão làng nhục hình cung
    Hai chân kết nối song cùm lưỡng đầu sát thủ lạnh lùng tra tấn khung
    *
    Bom bo trật tự cắc cùm cum
    Tiếng chày giã thịt xương bùm bùm
    Ta vừa lãnh đan bay ba lóng
    Tay chẳng kêu la bọn hổ đùm
    *
    Thân mình chưa biết họp xum đợi bầy lao quản chùm hum lệnh pháp trường
    Nhìn anh quân tội ễnh ương
    Vết thương rỉ máu dương cương không thể nhường
    Biệt giam đồ tể nhiễu nhương khoanh tay nhắm mắt vô thường quỷ dạ xoa
    *
    TÂM THANH

    Like

  2. TT Thiệu nói các anh cứ đánh tụi nó thẳng tay cho Tôi hồi nào? Con nguồn gốc vỏ thuật khg xuất phát Từ Thiếu lâm thì xuất phát ở đâu? Cho dù Bồ đề đạt mà là người Ấn độ. Vỏ thuật xuất phát từ Thiếu lâm do Đúc Đạt ma truyền cho đệ tử chỉ là những tư thế luyện tập thân thể để khỏe mạnh trong lúc Tu tập. Theo các Thế Long, Hổ ,xà Hạc Báo, sau nầy mới them that thập nhị huyền công . Và từ đó phát triển thành môn vỏ hoc Thiếu Lâm môn vỏ Thiếu lâm theo chân các Nhà sư truyền bá khắp nơi , các môn vỏ của Nhật , Việt, củng khg ít nhiều ảnh hưởng đến .Chính ông tác giả viết bài nầy củng chẳng hiểu gì về Thiếu lâm ghét Tàu đâm ra Viết bậy. Với Bài Hồng quyền Tống Thái Tổ Triệu khuông Dẩn làm nên sự nghiệp các vỏ phái Vỏ đang do Truong tam phong khai sáng củng từ Thiếu Lâm mà ra. Các đệ tử Tục gia củng phát triển như Vịnh xuân quyền. Triệt quyền đạo ,Bắc phái Nam phái. Nam quyền Bắc cước Mổi miền chuyên môn một kỷ thuật. Cương , Nhu. Tóm lại Thiếu Lâm là cái nôi Vỏ thuật khg thể chối bỏ các bài vỏ Cổ truyền Việt nam củng ảnh hưởng khg it từ Thiếu lâm Chúng ta đặt Thiệu để cho môn sinh dể nhớ,đừng nói là chúng ta đánh thắng Tàu thì chúng ta khg ảnh hưởng Tàu về vỏ Thuật .Còn chuyện Vua Quang Trung đòi Luỏng quảng Là chuyện thêu dệt Càng long khg dại gì trao 2 đất nầy cho Việt nam. Lý luận của ông viết bài nầy giống ông Lương kim Định Viết khg có chứng cớ thuyết phục viết đe thỏa mản lòng tự ái Dân tộc. Người Việt mình chính Bắc Nam Trung củng Kỳ thị khg ưa nhau đây là vấn đề Dân tộc nào củng có ,Tàu là quốc Gia nhiều chủng tọc và ngôn ngử chuyện khg ưa nhau là chuyện thường. Đừng nhắm mắt viết bừa có nhiều ông Trí thúc Thiên chua Viết Phật giáo theo Quân Tàu xâm lăng Việt nam để trả đủa Thiên chúa giáo theo chân pháp chiếm Việt nam là lối viết Ngu khg chịu đọc lịch sử .

    Like

  3. HcM HtC TdT:

    3 TAU TREN RANG DUOI…U

    Ho-chi-Minh tren rang duoi…u

    Tau-cong chiem Hoang-Sa nam 74

    CSBV va TC deu: quan-cuop-can

    An-Nam Nuoc Viet co chung-tu.

    Dan-Tri.

    Like

  4. LICH SU

    HOANG-TRUONG-SA:

    CUA ANNAM NUOC VIET

    TC xam chiem Hoang-Sa nam 1974

    CSBV xam-luoc Nuoc VNCH 30-4

    Hoang-Truong-Sa THUOC chu QUYEN VNCH

    Hai thang cuop:CSBV va Tau-phu.

    Dan-Tri.

    Like

  5. Trich mot phan bai viet ve thuyet Estoppel va cong ham Pham van Dong:tu trang mang “www.aihuuluatkhoa.com”:
    …………………………
    III CONG HAM CUA ONG PHAM VAN ĐONG VA HOC THUYET ‘ESTOPPEL
    1. ĐôI điều về học thuyết estoppel
    Từ ngữ ‘estoppel’ bắt nguồn từ chữ Pháp estouppail , estopper và tiếng La tinh stupa. Chữ ‘estoppel’ được Tự điển Collins của nước Anh định nghĩa như sau: ‘Estoppel’ là quy tắc về bằng chứng, theo đó, một cá nhân không được phép phủ nhận sự thật về điều mà trước đây người này đã tuyên bố hoặc về những sự kiện mà người này cho là có thật’
    Theo hệ thống Tục lệ Pháp Anh – Mỹ, có ít ra là 4 loại quy tắc về bằng chứng :
    Estoppel by conduct, Estoppel by deed, Estoppel by record và Equitable estoppel.
    Trong 4 loại bằng chứng kể trên thì Equitable estopel được xử dụng nhiều nhất trong luật Tín thác Hội (Law of Trust) và Luật quá thất (Law of Tort)
    Equitable estoppel lại tế phân ra làm hai : Proprietary estoppel (bằng chứng liên quan đến tài sản) và Promissory estoppel (bằng chứng liên quan đến lời hứa).
    Hai loại bằng chứng này được các tòa án khác nhau ở nước Anh thụ lý. Proprietary estoppel thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa tục lệ pháp, còn Promissory estoppel lại do Tòa Chancery xét xử theo nguyên tắc công bằng. Để có thể hiểu rõ sự khác biệt giữa Proprietary và Promissory estoppel, người viết xin đưa ra 2 thí dụ sau đây.
    Promissory estoppel.
    Một hôm, ông cha ghẻ của Doritt nói với nàng rằng nếu Doritt đồng ý làm việc không công cho trang trại của ông thì ông ta sẽ cho nàng một con ngựa đua còn tơ, tên là con Chớp. Doritt hiểu rằng nếu nàng chăm sóc và chịu khó tập dượt cho con Chớp thì sau này, khi đến tuổi trưởng thành để đua ngựa, con Chớp có thể thắng được nhiều giải lớn.
    Doritt đồng ý làm việc không công cho ông cha ghẻ đến một thời gian mà theo nàng ước tính, số tiền công vào lúc bấy giờ vào khoảng £1000.00. Thế rồi, Ong cha ghẻ của Doritt chẳng
    những không giao con Chớp cho Doritt như đã hứa trước đây, ông ta còn giữ lại cho mình cả số tiền thưởng £10,000.00 do con Chớp thắng giải trong cuôc đua ngựa nữa.
    Đến đây thì Doritt, nếu muốn, có thể nại học thuyết ‘estoppel’ để kiện ông cha ghẻ dựa trên những dữ kiện sau đây:
    . Vì tin vào lời hứa của người cha ghẻ, Doritt đã hành động và hành động này gây thiệt
    hại cho mình (làm việc không công). Vấn đề nêu ra ở đây là sự đền bù thiệt hại cho
    Doritt sẽ được chiết tính như thế nào ?
    . Nếu sự đền bù thiệt hại cho Doritt chỉ nhắm vào việc bồi thường thiệt hại thì
    trước hết Doritt phải được trả số tiền công là £ 1,000.00
    . Nếu sự đền bù thiệt hại cho Doritt được nhắm vào việc thi hành lời hứa thì
    ngoài số tiền công £ 1,000.00, Doritt còn được trao cho con Chớp và tiền
    thưởng đua ngựa mà con Chớp đã thắng giải.
    . Nếu sự đền bù thiệt hại cho Doritt còn nhắm vào tư cách bất chính của người
    cha ghẻ của Doritt, thì Tòa có thể truyền cho người cha ghẻ của Doritt phải
    trả cho Doritt thêm một khoản tiền nữa.
    Như vậy, hẳn đọc giả đã nhận thấy học thuyét estoppel đã đưa đến nhiều trường hợp với những giải pháp khác nhau tùy theo quyết định của Tòa xử theo nguyên tắc công bằng..
    Proprietary estoppel
    A có một số hàng hóa đem ký thác vào nhà kho của B để chờ khi nào có người mua thì bán đi.
    C, người coi kho của B đã lầm lẫn đem giao số hàng hóa này cho D.
    Vì không biết gì về việc người coi kho của mình đã giao lầm số hàng hóa đó cho D nên B đã nói với E, người muốn mua số hang hóa ấy rằng , hàng hóa của A vẫn còn ở trong kho của mình. E nói với A bán số hàng hóa đó cho mình và yêu cầu B giao hàng.
    Tòa phán rằng B không thể phủ nhận việc mình đã đoan chắc với E rằng kho của mình vẫn còn giữ số hàng của A gửi.
    Như vậy, tương quan giữa B và C là tương quan giữa chủ và người làm công (Master and Servant). Theo Tục Lệ Pháp, người chủ phải chịu trách nhiệm liên đới (vicarious liability) về hành vi sơ xuất hay bất cẩn của người làm công (The master is vicariously liable for negligent acts of his servant)
    2. CONG HAM PHAM VAN ĐONG KHONG LIEN HE GI DEN NGUYEN TAC ESTOPPEL!
    Công hàm Phạm văn Đồng và học thuyết estoppel, qua phần trình bầy trên, là hai nguyên tắc khác nhau, do những điều kiện không giống nhau chi phối.
    Công hàm Phạm văn Đồng là một cam kết đơn phương của một Thủ Tướng, nhân danh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tuyên bố ghi nhận và tán thành quyết định về hải phận 12 hải lý của Trung Quốc.
    Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ngày nay vẫn tiếp tục tôn trọng nội dung bức Công hàm của ông Phạm văn Đồng là nhìn nhận và tán thành lãnh thổ và hải đảo 12 hải lý của Trung Quốc do Trung Quốc đã thủ đắc hợp pháp. Nước Cộn g Hòa Xã Hội Chủ Nghỉa Việt Nam chỉ phủ nhận những lãnh thổ và hải đảo nào của Trung Quốc không được luật lệ quốc tế công nhận tỷ như hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa của nước Việt Nam Cộng Hòa. Hai quần đảo này không được NNTHD công nhận là của Trung Quốc, ngoài ra Trung Quốc lại còn đem vũ lực xâm chiếm vào các năm 1974, 1988 rồi tuyên bố là của mình. Hành động này lại còn vi phạm thô bạo vào điều 12 bản tuyên bố của Hội nghị Genève năm 1954, điều 4 đoạn 2 của bản Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và Nghị Quyết số 2625 LHQ ngày 22 tháng 10 1970 khiến cho tuyên bố của Trung Quốc đương nhiên vô hiệu.
    Nguyên tắc hay học thuyết Estoppel, trái lại, là một loại khế ước, có hiệu lực pháp lý giàng buộc đôi bên kết ước do hệ quả của sự đề cung và sự chấp nhận đề cung nên đạ tạo ra những nghĩa vụ cho đôi bên kết ước phải thi hành. Nếu sau này xẩy ra tranh chấp, nội vụ sẽ do Tòa án quốc nội xét xử theo luật quốc nội. Nếu đem so sánh nội dung của công hàm Phạm văn Đồng với nội dung của ‘promissory estoppel’ hay ‘proprietary estoppel’ ta thấy giữa chúng chẳng có điểm nào liên hệ với nhau.
    Ngoài ra, cũng không thể dùng luật quốc nội để áp dụng vào luật quốc tế, trừ phi luật quốc tế không được ban hành để giải quyết vụ việc thì khi đó tòa án quốc tế mới buộc phải xử dụng tới luật quốc nội, như lý trí thành văn (raison écrite), để giải quyết nội vụ.
    IV. KET LUAN.
    Gần đây, trên các diễn đàn ở hải ngoại thường hay nhắc đến cái gọi là Mật ước Thành Đô 1990. Mật ước này được ký kết vào năm 1990 tại Thành Đô của Tỉnh Tứ Xuyên giữa một bên là các thành viên của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam như Nguyễn văn Linh, Đỗ Mười, Phạm văn Đồng, bên kia là Giang trạch Dân và Lý Bằng đại diện cho Đảng Cộng sản Trung Quốc. Đôi bên đồng ý một thời hạn là 30 năm để sáp nhập Việt Nam vào Trung Quốc (?)
    Nếu mật ước này đã thực sư xẩy ra thì nó cũng vô giá trị về mặt pháp lý vì trái với nguyên tắc Jus Cogens, theo đó một mật ước như vậy không thể được các quốc gia trên thế giới chấp nhận, bởi vì không một quốc gia nào trên thế giới lại chịu để cho lãnh thổ, hay hải đảo của nước mình nằm trong tay một vài nhân vật trong chính quyền mà những người này có toàn quyền, chỉ bằng vào một văn thư tuyên bố giao đất đai, biển đảo cho một quốc gia khác !
    Điều 8 của bản Những nguyên tắc hướng dẫn , trong đó nguyên tắc Jus cogens sẽ được xử dụng tới để vô hiệu hoá nhũng tuyên bố đơn phương hay hiệp ước thuộc loại này. Trở lại cái gọi là mật ước Thành Đô ký kết giữa các thành viên của hai đảng Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc thì mật ước nnày cũng sẽ chẳng có giá trị gì cả, ngoại trừ trường hợp các thành viên trong Bộ chính trị hiện của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay sẵn sàng bán đứng đất nước một lần nữa cho Trung Cộng. Nếu họ đã có ý định như v ậy thì đâu cần đến Mật ước, điều mà họ đã từng làm đối với Ai Nam Quan, Thác bản Giốc và biên giời Hoa Việt và một phần của Vịnh Bắc bộ của Việt Nam trước đây!

    Like

  6. Kể từ hôm nay tôi đề nghị tất cả người Việt Nam trong ngoài nước :
    1-HẢY BỎ NGAY VÀ ĐỪNG BAO GIỜ SỬ DỤNG chử “TRUNG QUỐC,TRUNG CỘNG HAY TRUNG HOA vì chữ Chine(tiếng Pháp) China(tiếng Anh) do người Pháp phiên âm từ chử Qin (nước Tần)chứ chẳng mắc mớ gì đến chữ Trung Hoa, Trung Quốc cả .Và trên thế giới chỉ có Việt Nam là gọi bọn Tần (Tàu) là Trung Quốc mà thôi.
    Sở dỉ ngươi Việt Nam cả hai miền Nam ,Bắc gọi bọn Tàu là Trung Hoa Trung Quốc hay Trung Cộng là do HỆ QUẢ của 1.000 năm Bắc thuộc và cả 2.000 ảnh hưởng Khổng thuyết mà Việt Nam đả từng xem là một Tôn giáo và gọi là Đạo Khổng.
    Vì vậy chúng ta nên gọi là Tàu Cộng, còn đối với CSVN thì nên gọi là Việt Công cho ngắn gọn ,rỏ ràng chính xác.
    Xin quí vị đọc lại bài báo của tác giả TRẦN ĐỨC DŨNG đăng trên Báo mạng TỔ QUỐC năm 2014 để hiểu rỏ hơn về chữ Trung Hoa rồi trung Quốc và Trung Cộng.

    TRẦN ĐỨC DŨNG – TẠI SAO KHÔNG NÊN DÙNG CHỮ TRUNG QUỐC?
    Bản đồ cổ của Trung Cộng 2000 năm trước
    Khởi đầu, những bộ tộc nhỏ sống trên vùng đồng bằng giữa hai dòng sông; Hoàng Hà phía bắc và Dương Tử phía nam, gọi nơi này là Trung Nguyên. Tức vùng bình nguyên giữa hai con sông. Trung là ở giữa. Nguyên là cánh đồng. Cho nên chữ Trung Nguyên chỉ có nghĩa là cánh đồng giữa hai dòng sông.
    Hai chữ Trung Nguyên quá mơ hồ không rõ ràng, cho cả vùng rộng lớn. Trong vùng này có một địa phương, khá đông dân cư, gọi là Hoa Âm (thuộc địa phận tỉnh Hoa Nam hiện nay), nên còn được gọi là Trung Hoa. Từ đó hai chữ Trung Nguyên hay Trung Hoa thường được dùng lẫn lộn. Để phân biệt với Bắc Mạc, tức vùng sa mạc phía bắc sông Hoàng Hà, họ gọi là Trung Nguyên. Để phân biệt với Lĩnh Nam, tức vùng đồng bằng phía nam sông Dương Tử, họ gọi là Trung Hoa.
    Thế rồi, qua nhiều thời kỳ, các kẻ nắm quyền cai trị tự vẽ vời ra đủ điều để sơn phết cho hai chữ Trung Hoa nhằm đánh bóng thân thế đối với các xứ lân cận.

    Lúc này, bọn cầm quyền bắt tên bồi bút Khổng Khâu, mà người Việt thường gọi là Khổng Tử, vẽ vời cho rằng Trung là ở giữa, Hoa là có văn hóa. Ý muốn tôn xưng rằng chỉ có nơi đây mới là trung tâm văn hóa của con người. Một loại “đỉnh cao trí tuệ” của thế giới vào thời bấy giờ. Vì thế họ gọi những dân tộc sống vùng chung quanh là súc vật như: Nam Man (chó); Bắc Địch (sâu); Đông Di (rắn); Tây Nhung (khỉ). Cũng bởi ngu si và đầu óc bán khai, kém tiến hóa, nên họ không hề biết rằng gọi như thế tự chính họ còn thua cả súc vật. Kẻ ngu si thường mắc phải căn bệnh hoang tưởng này để giải tỏa ẩn ức tâm lý hèn kém, mà cho đến nay chúng ta vẫn còn nhận thấy.
    Thật ra, tên họ Khổng xứ Lỗ (nay thuộc tỉnh Sơn Đông) nhận lệnh đi ăn cắp văn hóa của phương Nam, tức của dân Bách Việt, rồi đem về xào nấu, nên hắn ta chỉ dám gọi là đồ ăn cắp chứ không phải tự tay tạo ra (thuật nhi bất tác). Bán khai đến độ, hắn ta cũng không hề biết và cho rằng trà và lúa của dân Bách Việt phía nam sông Dương Tử đang dùng là kỳ lạ và chẳng phải là những món ăn uống mà kẻ có văn hóa nên dùng. Thế nhưng sau khi uống thử rồi thấy ngon thấy ghiền. Cái tài lưu manh của kẻ ăn cắp luôn là tẩy xóa hết dấu vết cũ rồi cho là của mình. Để bây giờ cả thế giới, ngay người Việt cũng tin chắc rằng trà phát xuất từ Tàu. Cũng theo lệnh trên, tên bồi bút họ Khổng này đưa ra những thuyết ma mỵ để đặt ách nô lệ lên đầu người dân như; thuyết thìên mệnh, ngũ thường, và trung quân ái quốc, vân vân.
    Con trời, gì mà bị kẻ khác soán ngôi tàn sát thẳng tay không chừa một mống. Ngũ thường gì mà trong cung đình, con giết cha để cướp ngôi, hai cha con cùng lấy một vợ, con cướp vợ của cha rồi loạn luân, chém giết, tàn sát lẫn nhau lẫn nhau đủ kiểu. Thế nhưng chúng bắt mọi người dân phải trung thành với kẻ cai trị mới gọi là yêu nước. Điều này chẳng khác gì hiện nay bọn giặc cộng cố tình nhét vào đầu người dân Việt câu “yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội.”

    Thật ra, tên Khổng Khâu này chỉ là một kẻ bồi bút cho bọn cầm quyền vào thời bấy giờ. Chẳng khác nào Tố Hữu, Cù Huy Cận, Chế Lan Viên, Xuân Diệu sau này của Việt cộng. Và hiện nay, để áp đặt ách nô lệ này, giặc Bắc ra lệnh cho bọn tay sai Việt cộng thành lập viện Khổng Tử tại Hà Nội để bắt dân Việt thờ lạy như ngày trước trong thời đại phong kiến gọi là Văn Miếu.
    Những người Việt mang nặng tinh thần nô lệ nên cứ mãi bị giặc Bắc lừa gạt mà tôn thờ tên bồi bút này là bậc thầy muôn đời (vạn thế sư biểu). Hãy để cho những người này thỏa mãn kiếp nô lệ và thờ Tàu của họ. Nhưng chúng ta, những người Việt biết tự trọng và có tinh thần dân tộc, không nên làm điều này. Không những thế, mỗi người nên có trách nhiệm đối với dân tộc và tổ quốc. Nghĩa là khi nghe người khác hiểu sai nói sai, chúng ta nên trình bày, giải thích cho họ hiểu rõ sự việc. Cùng giúp nhau hiểu rõ vấn đề, thì không có gì phải ngần ngại, hay lo sợ cả. Mà đây lại là vấn đề sống còn của cả một dân tộc. Đây là trách nhiệm của mọi người Việt, không riêng gì ai cả. Mọi người dân đều hiểu rõ tức là dân trí được nâng cao. Sự hiểu biết của người dân càng nhiều, bọn Việt cộng càng lo sợ. Điều này ai cũng hiểu cả.

    Để áp đặt tinh thần nô lệ và phong kiến trở lại, kẻ cầm quyền Việt cộng đang âm thầm đem các từ ngữ mang nặng tính thần quan liêu phong kiến, vào đầu người Việt như: quan chức, ngài. Người Việt sống tại Miền Nam trước năm 1975 sẽ dễ dàng nhận ra điều này. Danh từ quan chức hoàn toàn không có trong ngôn ngữ Miền Nam. Thay vào đó, là nhân viên, hay viên chức chính quyền. Hoàn toàn không có chữ quan trong đầu người dân sống dưới chế độ tự do dân chủ Việt Nam Cộng Hòa. Danh từ ngài, chỉ dùng cho các đấng tối cao, giáo chủ trong tôn giáo. Trường hợp ngôi thứ hai trong văn bản, thì chỉ là: “Thưa tổng thống.” Không bao giờ có hình ảnh của kẻ nô lệ cúi đầu khuất phục như trong câu: “Kính thưa ngài thủ tướng,” như hiện nay trong xã hội cộng sản. Nêu ra điều này để mọi người cùng nhận ra rằng, qua ngôn ngữ, Việt cộng đã cố tình đưa người dân Việt trở về thời kỳ quan liêu phong kiến và nô lệ cũ.
    Từ xưa, Trung Nguyên này là nơi tranh giành quyền lực tự do và được xem là vườn hưu hoang không có chủ. Kẻ nào giành được thì mặc sức mà cai trị. Và họ cũng chẳng có khái niệm gì về quốc gia dân tộc. Kẻ nắm quyền cai trị luôn có tham vọng bành trướng và xâm chiếm các nước chung quanh. Thời kỳ Chiến Quốc là một thí dụ điển hình lịch sử về sự tranh giành quyền lực nơi vườn hưu hoang này. Với tinh thần đó, và nhằm trấn áp người dân để cai trị nên kẻ nào lên nắm quyền cũng tự xưng mình là con trời, là lớn, là đại. Như Đại Chu, Đại Tần, Đại Hán, Đại Đường, Đại Tống, Đại Nguyên, Đại Minh, Đại Thanh. Đại sau thẳng tay tàn sát tiêu diệt đại trước. Và đại cuối cùng thì bị tám cường quốc Tây phương cùng nhau xẻ thịt. Nên thực tế chẳng có ma nào là đại cả.

    Cho nên người Tàu chỉ có khái niệm về triều đại chứ không biết thế nào là dân tộc và tổ quốc. Điều này còn hiện rõ trong nếp sinh hoạt của người Tàu hiện nay nơi hải ngoại. Thí dụ; Tàu Hồng Kông, Tàu Singapore, Tàu Đài Loan, Tàu Phúc Kiến, Tàu Quảng Đông, Tàu Mã Lai, vân vân. Không Tàu nào chịu chơi chung với Tàu khác cả. Bởi điều dễ hiểu, trong đầu người dân đến cả kẻ nắm quyền cai trị, không có dân tộc Tàu, không có dân tộc Trung Hoa, hay Trung Quốc. Bởi thế, để thực hiện Bước Tiến Nhảy Vọt, dùng lương thực của Tàu đổi lấy kỹ thuật của các nước cộng sản Đông Âu, Mao Trạch Đông sẵn sàng cho 17 triệu người Tàu chết đói mà chẳng hề bận tâm.
    Chữ triều có nghĩa là nhiều lượn sóng có ngọn gập đầu xuống cùng nhau chạy về một hướng, là tấp vào bờ, như thủy triều, hải triều. Từ đó, bọn cai trị dùng chữ triều mang ý nghĩa cùng khoanh tay cúi đầu chầu và hướng về. Bởi vậy trên trang phục chúng luôn cho thêu nhiều lượn sóng cuốn gục đầu trên áo quần các quan lại, hoặc các nơi như sảnh đường xử án. Và khi gặp nhau, kẻ dưới phải khoanh tay và cúi đầu theo đúng hình ảnh của chữ triều đã thêu trên quần áo, và hiện hữu khắp nơi qua tranh ảnh, chạm khắc. Nói theo ngôn ngữ trong khoa Tâm Lý Học, đó là những kỹ thuật khống chế tư tưởng (mind control) vô cùng tinh vi và ma quỷ.

    Triều cống nghĩa là cúi đầu dâng nộp phẩm vật quý giá lên cho ông chủ. Triều đình là cái sân để cả đám quan lại đứng khoanh tay cúi đầu chầu về ông vua ngồi trên cao. Triều đại có ý nghĩa nguyên thủy là khoanh tay cuối đầu hướng về ông chủ lớn. Những chữ này, thể hiện tinh thần ngạo mạn, tham vọng quyền lực, luôn bắt các nước nhỏ xung quanh phải quy phục kẻ cai trị ngồi ở giữa. Các chữ Trung Hoa hay Trung Quốc cũng mang tinh thần ngu xuẩn nhưng ngạo mạn này. Ngày nay với kiến thức về địa dư thế giới, mọi người Việt đều biết rõ xứ này chẳng có gì để tự xưng là Nước Ở Giữa cả. Thế nhưng nhiều người Việt vẫn đang chấp nhận điều này qua ngôn ngữ. Đây là biểu hiện của một kiến thức kém cõi và nặng tinh thần nô lệ.
    Người Việt, sống trên vùng đất phía nam sông Dương Tử, từ vùng núi Ngũ Lĩnh và hồ Động Đình trở về nam, nên gọi là xứ Lĩnh Nam. Họ vẫn luôn biết mình là dân tộc Bách Việt. Để chống lại ý tưởng bá chủ, hống hách của những kẻ phương Bắc, và quyết tâm giữ vững tinh thần tự chủ và độc lập, người Việt luôn nêu cao tinh thần Đại Việt, Đại Nam qua mọi thời kỳ lịch sử.
    Lưu Bang, một tên thôn trưởng lưu manh sống bên dòng sông Hán Thủy, cướp công Hạng Võ, diệt Tần lên nắm quyền cai trị (256 trước TL). Để thành lập triều đại, Lưu Bang lấy chữ Hán từ tên con sông rồi gọi là Triều Hán, và tự xưng là Đại Hán. Sự cai trị của dòng họ lưu manh này kéo dài suốt 400 năm, nên hai chữ đại hán đã ăn sâu vào đầu của nhiều thế hệ dân cư trong vùng. Để sống còn, tránh cảnh bị tàn sát và tiêu diệt, dân tộc hay bộ tộc nào trong vùng bị cai trị cũng tự gọi mình là người Hán. Ngay cả chữ viết đã có trước đó từ lâu chúng cũng bắt mọi người gọi là chữ Hán. Người Việt sau này, dưới sự áp đặt của Tàu mấy trăm năm trước cũng mặc nhiên chấp nhận điều này. Cho đến nay, hầu hết người Việt cũng vẫn còn gọi là chữ Hán. Không mấy ai dám gọi là chữ Tàu cả. Vì họ sợ. Sợ điều gì họ cũng không rõ. Nhưng vẫn cứ sợ và gọi như thế là đủ an tâm. Nêu điều này ra để chúng ta cùng nhận rõ cái tinh thần nô lệ này đã truyền đời đến cả ngàn năm nay vẫn còn nhiều người Việt không chịu nhận ra và quyết tâm tiêu trừ.

    Sau khi Mông Cổ diệt Đại Tống lập Đại Nguyên cai trị xứ này cả trăm năm. Đến khi Trần Hữu Lượng (Lượng là con trai Chiêu Quốc Vương Trần Ích Tắc – qua việc thông đồng với giặc, vương bị anh là vua Trần Thánh Tông không giết nhưng đuổi ra khỏi Việt Nam và qua Tàu sống ở vùng Trường Sa, Quảng Đông ngày ngay) đánh đuổi Mông Cổ chuẩn bị lên ngôi thì bị Chu Nguyên Chương cướp công và lập nên Đại Minh. Dòng họ Ái Tân Giác La của bộ tộc Mãn Châu (Nữ Chân, Kim sau đổi là Thanh) diệt Minh, rồi cũng gọi là Đại Thanh. Thời kỳ nầy không còn ai dám nhận mình là Đại Hán hoặc Đại Minh nữa cả. Và bọn đại hán (trong đầu người Việt) phải cạo đầu thắt bính như người Mãn Châu. Nếu không sẽ bị chặt đầu ngay. Lúc bấy giờ, trong dân gian, vì quen miệng họ vẫn gọi xứ này là Trung Nguyên hay Trung Hoa. Tuy rằng biên giới đã vượt qua sông Dương Tử và tiến xa xuống phương nam.
    Sau này một vài người Tây phương, vốn không biết nhiều về xứ này, nên cho rằng người sống ở đây là dân Hán, nhưng họ lại gọi là nước Tần. Người Việt vốn nặng tinh thần nô lệ lại tôn thờ khoa học tây phương, nghe người da trắng Âu Châu gọi thế nên vội vã cho là có tộc Hán. Đây là sự di căn của căn bệnh nô lệ. Ngày trước họ thờ Tàu. Khi Tàu đi, Tây đến thì họ đành phải thờ Tây. Đối với họ hễ người Tây phương nói là phải đúng, và họ không hiểu rõ nghĩa chữ tộc trong tiếng Việt. Điều này cũng ngây ngô chẳng khác nào hiện nay bảo những người sống tại Mỹ là dân tộc Hoa Kỳ. Ai cũng biết chỉ có người Mỹ chứ không có dân tộc Hoa Kỳ. Xứ Tàu cũng chỉ là một loại hợp chủng quốc ở Châu Á mà thôi. Hiện nay, ngoài hàng trăm ngôn ngữ của những dân tộc thiểu số, Tàu vẫn còn xử dụng sáu ngôn ngữ chính. Ngay cả Mao Trạch Đông vẫn nói tiếng Hồ Nam, khiến nhiều người Tàu nghe không hiểu. Không có ngôn ngữ Tàu chính thống, tuy rằng phần lớn là tiếng Việt do dân Bách Việt sống khá nhiều ở vùng phía Nam sông Dương Tử, mà còn giữ rõ âm Việt nhất là tiếng Quảng Đông, Quảng Tây. Vì sự kiện này nhiều người Việt Nam, không chịu tìm hiểu lịch sử của tộc Bách Việt, lại nặng tinh thần nô lệ, nên cứ cho rằng tiếng Việt hiện nay là mượn từ tiếng Quảng Đông của Tàu. Dù vẫn còn sáu ngôn ngữ chính, nhưng chữ viết chỉ một, do Doanh Chính, tức Tần Thủy Hoàng, thống nhất chữ viết để dễ bề cai trị, và gọi là quan thoại, tức ngôn ngữ của quan lại. Đến thời bạo chúa Mao Trạch Đông, vốn xem Tần Thủy Hoàng là thần tượng, cũng bắt chước Doanh Chinh bắt sửa lại chữ Tàu và gọi là chữ Tàu đơn giản. Ở đây chúng ta gọi là chữ Tàu, nhưng sẽ còn vô số người Việt quyết tâm giữ chữ Hán trong đầu cho đến chết, và truyền lại cho con cháu.

    Dưới áp lực xâm lăng của giặc Bắc, người Việt từ vùng Động Đình Hồ, dần dần bị đẩy xa về phương nam. Qua thời gian, người Việt còn ở lại vùng phía Namsông Dương Tử đã quên mất nguồn gốc Bách Việt của mình. Nhưng họ không hề bị đồng hóa, vì dân số Việt tộc ở những vùng này vẫn luôn nhiều hơn những bộ tộc hỗn tạp nhỏ khác. Họ chỉ mất gốc. Một điển hình trong lịch sử cận đại là Tôn Dật Tiên (Sun Yat Sen), sinh ở Quảng Đông, người mà dân Tàu đang thờ phượng và suy tôn là cha đẻ của cuộc Cách Mạng Tam Dân, vốn là người Việt. Ông ta biết rõ điều này. Tuy vậy, vì quá lâu đời và vì sự nghiệp chính trị ông không dám nói rõ thân thế. Trong khi đó dòng họ Lý của ViệtNam sống tại Đại Hàn gần ngàn năm nay vẫn luôn tự hào mình là người gốc Việt. Nên khi vừa lên cầm quyền, tổng thống Lý Thừa Vãng của Nam Hàn đã nhờ tổng thống Ngô Đình Diệm truy tìm gia phả của dòng họ Lý tại Việt Nam.
    Chiến thắng mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789) mọi người Việt đều đã biết. Sau khi đánh quân Thanh một trận nhớ đời và đuổi ra khỏi bờ cõi, Quang Trung Hoàng Đế liền có kế hoạch lấy lại đất bị giặc Bắc cướp trước đó. Theo chương trình, vua Quang Trung sẽ đuổi Mãn Thanh trở ngược về phía Bắc sông Dương Tử, quyết lấy lại vùng Lĩnh Nam của dân Bách Việt ngày xưa. Bước đầu, nhà vua bắt Càn Long phải gả con gái và trả lại hai vùng đất Quảng Đông và Quảng Tây. Sau đó sẽ làm bàn đạp để bắc tiến và tây tiến. Càn Long liền gởi chiếu mời vua Quang Trung sang Bắc Kinh để đàm phán. Nhắm để phòng sự tráo trở của giặc Bắc cùng sẵn dịp hạ nhục Càn Long của Đại Thanh, vị Hoàng Đế Đại Việt cho người giả trang dẫn phái đoàn sang Tàu. Trên đường đi phái đoàn Việt cố tình hành hạ bọn quan lại Tàu đủ điều, nhưng chúng cũng phải cúi đầu chịu nhục. Càn Long vẫn biết rõ trưởng phái đoàn chỉ là vị vua giả. Nhưng mở miệng ra lại sợ nhục nhã, nên hắn đành phải câm miệng và dùng đủ lễ nghi để tiếp đãi phái đoàn. Đây cũng là một sự nhục nhã nặng nề mà Càn Long của Đại Thanh đành phải nuốt sâu vào lòng.

    Vua Quang Trung cho Càn Long biết, nếu không chịu trả đất, vua Việt sẽ giúp bọn phục Minh nổi dậy diệt Thanh.
    Vừa mới bị đánh một trận kinh hoàng, lại muốn giữ ngôi để tiếp tục cai trị xứ Tàu, Càn Long đành phải nuốt nhục cúi đầu chấp nhận. Nhưng mọi việc chưa xong thì vua Quang Trung băng hà. Thế là việc đòi lại đất của người Việt xem như bất thành.
    Nếu vua Quang Trung không mất sớm và bắt Càn Long của Đại Thanh trả lại Quảng Đông, Quảng Tây cho Đại Việt thì hôm nay đã không có Tôn Dật Tiên cho dân Tàu thờ làm Quốc Phụ. Nêu ra điều này để người dân Việt thấy được sự ngu ngốc của người Tàu. Đúng ra, mọi người Việt đều có bổn phận phải nói rõ điều này cho người Tàu, và nhất là cho Tập Cận biết mỗi khi hắn cúi đầu lạy Tôn Dật Tiên.
    Chữ Qin được Tàu phát âm là Ch’in, người Việt phát âm là Tần. Từ âm Ch’in này người da trắng gọi xứ này là China hay Sino. Khi nắm quyền Doanh Chính dùng chữ Đại Tần vì lấy tên địa phương của xứ Tần (hiện nay thuộc tỉnh Giang Tô). Cho nên người Tây phương dùng chữ China, Sino, Chinois là do sự diễn âm chữ Tần (Ch’in), để gọi xứ này. Hoàn toàn không có ý nghĩa gì là Nước Ở Giữa cả. Xin người Việt không nên đem hình ảnh của hai chữ Trung Quốc trong đầu của mình mà áp đặt lên chữ China, Sino của người da trắng.
    Người da trắng gọi họ là Tần. Tại sao chúng ta không dám gọi họ là Chệt hay Tàu? Hỏi tức đã trả lời rồi vậy.
    Mãi đến thời kỳ Mãn Thanh vẫn chưa có hai chữ Trung Quốc. Năm 1927, Nhật tiến chiếm vùng Mãn Châu, lập ra Mãn Châu Quốc, sau đó cai trị toàn xứ Tàu. Tiếp theo xứ Tàu bị Hoa Kỳ chẻ ra làm hai thế lực chính trị vào năm 1949. Ngay sau khi đánh bại Nhật, năm 1945, lúc đầu Mỹ tính giao cả nước Tàu cho Tưởng Giới Thạch, để loại trừ Trương Học Lương, vốn gốc Mãn Châu, lên năm quyền. Nhưng sau đó, năm 1948, Mỹ đổi ý, đem giao cả đại lục cho Mao Trạch Đông, được gọi là People’s Republic of China. Đảo Đài Loan thì Mỹ giao cho Tưởng Giới Thạch được gọi là Republic of China. Để làm vui lòng kẻ bị bạc đãi vì chia đất cho quá ít, Mỹ cho Tưởng Giới Thạch vào Liên Hiệp Quốc để xoa dịu tự ái. Đến năm 1972, sau thời gian đủ lâu, Mỹ đuổi Tưởng ra khỏi Liên Hiệp Quốc, đem Mao Trạch Đông vào thay thế. Và bắt Tưởng phải dẹp bỏ danh xưng Republic of China, mà từ đó về sau chỉ được gọi là Taiwan, không có vị thế quốc gia trên chính trường quốc tế.
    Tưởng Giới Thạch & Mao Trạch Đông
    Hai xứ này, lúc bấy giờ, nếu dịch sang tiếng Việt cho đúng nghĩa quốc tế, ở đây chúng ta sẽ dựa trên tiếng Mỹ, phải là Cộng Hòa Nhân Dân Tàu (Tần), và Cộng Hòa Tàu (Tần). Cũng như Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là Socialist Republic of Vietnam, hay Việt Nam Cộng Hòa là Republic of Vietnam.
    Ở đây, chúng ta nhận ra thêm một điều vô cùng quan trọng là, do bản chất nô lệ giặc Bắc, Việt cộng đã âm thầm dùng tiếng Việt theo kiểu Tàu. Các chữ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa đi trước hai chữ Việt Nam. Có nghĩa là tính từ đi trước danh từ. Trong khi đó danh xưng Việt Nam Cộng Hòa, tính từ phải đi sau danh từ. Người Việt chúng ta chỉ nói trái ổi xanh, hoặc biển xanh. Chỉ có dân Tàu mới nói xanh trái ổi, và thương hải.
    Có người sẽ cho rằng chỉ là thứ tự trước sau, ý nghĩa vẫn có đủ, việc gì mà phải chẻ sợi tóc làm tư.
    Xin thưa. Một người đảng viên cộng sản, dù nói hay viết, mà dùng chữ nhân dân, hay nhà nước trước chữ đảng, chắc chắn sẽ bị giết ngay. Thực tế, không có người nào dám làm điều này. Bởi họ biết rõ nguyên tắc sinh tử của băng đảng sắt máu côn đồ này là: Nói Bậy Là Chết.

    Trở lại hai chữ Trung Quốc. Người Tàu, bởi ngu si lại nặng tinh thần hống hách luôn tự cho mình là lớn, là trung tâm của thế giới, nên họ tự gọi là Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, và Cộng Hòa Trung Hoa, viết và hiểu theo cách Tàu dùng tiếng Việt. Sau khi được Mỹ giao cho cai trị toàn miền đại lục, Mao Trạch Đông vẫn tiếp tục truyền thống ngu si và bạo chúa nên tự gọi là Trung Quốc. Thứ nhất; nhắm kích thích tinh thần ngông cuồng của dân trong xứ. Thứ hai; bắt cộng sản Việt Nam phải tuân dùng theo, để tròng ách nô lệ lên đầu người Việt, mà trước nhất là những kẻ tay sai Việt cộng. Hiểu một cách rõ ràng, chữ Trung Quốc vẫn hoàn toàn không có ý nghĩa gì là Nước Ở Giữa cả. Bởi chữ Trung vốn có gốc từ chữ Trung Nguyên từ thời xa xưa. Tuy vậy, Tàu cộng vẫn mập mờ để bắt Việt cộng phải áp đặt vào đầu những người Việt, kém hiểu biết lại nặng tinh thần nô lệ phương Bắc, nên tự suy diễn ra là Nước Ở Giữa để nuôi trong đầu.
    Xin mở một dấu ngoặc. Trong hồi ký của mình, ông bác sĩ riêng của Mao Trạch Đông cho biết; kể từ khi nắm quyền đến lúc chết (1949-1976), suốt 28 năm Mao không hề tắm, và nhất định không chịu đánh răng súc miệng. Tên bạo chúa này tuyên bố hắn chỉ cần “tắm” trong âm hộ của người đàn bà là đủ, và hắn không tin có loại bệnh có thể truyền nhiễm qua đường tình dục. Để tránh tình trạng này, ông bác sĩ riêng phải gạt hắn ta bảo là uống thuốc bổ tăng cường sinh dục, nhằm tránh tình trạng Mao truyền bệnh giang mai cho cả ngàn người đàn bà mà hắn xem là cung tần phi nữ. Một loại bạo chúa ngu si của thời đại. Nêu điều này nơi đây để mọi người Việt biết sự ngu si và bệnh hoạn của Mao, và cũng là của dân Tàu. Thế mà tên cáo họ Hồ bắt dân ViệtNam phải học tập tư tưởng của Mao.
    Vốn là kẻ tôi tớ luôn cúi đầu phục tùng mệnh lệnh của ông chủ, lại sống kiếp sống của kẻ vô tổ quốc, phi dân tộc, nên người cộng sản Việt Nam không dám gọi là Tàu. Và họ bắt người dân phải gọi là Trung Quốc để áp đặt và nhồi nhét tinh thần nô lệ vào đầu người Việt qua ngôn ngữ.

    Trước năm 1975, người Việt tại Miền Nam thường gọi hai quốc gia này là Trung Hoa Cộng Sản và Trung Hoa Quốc Gia để chỉ cho hai thể chế chính trị, nhưng vẫn gọi chung là người Tàu. Như; Tàu Đài Loan, Tàu Chợ Lớn, Tàu Hồng Kông, Tàu Đại Lục. Chính những người Tàu sống ở Việt Nam cũng tự gọi họ là người Tàu. Từ thời tổng thống Ngô Đình Diệm, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cấm không cho người Tàu làm 11 nghề chính để bảo vệ kinh tế cho người dân Việt Nam. Nguồn gốc phát xuất âm Tàu trong tiếng Việt, cho đến nay vẫn chưa rõ ràng. Có thể là do nghe và nói lại một cách sai lạc âm của chữ Tần mà người Tây Phương tại Việt Nam thường dùng vào thế kỷ 18, 19. CảPhilippines, Thailand, Kampuchia, trong ngôn ngữ của các quốc gia này, họ cũng không gọi xứ này là Nước Ở Giữa. Riêng người Nhật dùng chữ China với ý nghĩa khinh miệt là lũ người bệnh hoạn, ngu si, nhu nhược, yếu hèn. Đến nay chỉ có người Tàu và dân Việt dùng chữ Trung Quốc. Nêu điều này ra nơi đây, để mọi người cùng nhận thấy rõ sự nô lệ trong tư tưởng, thể hiện qua ngôn ngữ của người Việt, do sự tiếp tay của Việt cộng, đã bị Tàu cộng áp đặt sâu nặng đến thế nào.
    Một thí dụ điển hình cho căn bệnh nô lệ giặc Bắc, là cho đến hôm nay, trong đầu khá nhiều người Việt vẫn tin chắc rằng võ thuật của Việt Nam thì phải “bắt nguồn từ Trung Quốc.” Hỏi tiếp nữa thì họ chống chế rằng bởi từ Thiếu Lâm Tự, và do Đạt Ma Sư Tổ truyền ra. Quả là khôi hài. Nếu vậy thì phải bảo rằng võ thuật của Tàu vốn do Ấn Độ truyền sang. Khổ thật. Kiến thức của họ đã kém, khả năng suy luận cũng không có, lại mang nặng căn bệnh thờ Tàu. Từ thời Khổng Khâu xa xưa mãi cho đến hôm nay, bọn người này chỉ có truyền thống chuyên nghiệp là đi ăn cắp và ăn cướp, xong đem về bôi xóa dấu vết rồi cho là của mình.

    Vì thế, để thể hiện tinh thần tự chủ và độc lập của dân tộc, người Việt nên ý thức rõ điều này. Và không nên dùng hai chữ Trung Quốc. Bởi đây là thâm ý của cộng sản Việt, theo lệnh ông chủ Bắc Kinh, cố tình nhồi nhét tinh thần nô lệ vào đầu người dân Việt Nam.
    Do đó, để chống Tàu, trước hết mọi người Việt nên chống lại âm mưu áp đặt tinh thần nô lệ này, qua ngôn ngữ, của giặc Bắc.
    Nếu vẫn có người chưa chịu tin điều này, xin hãy nhớ lại chữ triều và hình ảnh những lượn sóng cuộn đầu trên áo quần quan lại thời phong kiến của Tàu ngày xưa. Xin nhắc lại, đây là kỹ thuật khống chế tư tưởng (mind control) nhắm đánh sâu vào vô thức (subconcious, 88%), không nằm trên bình diện ý thức (concious, 12%) nên khó lòng nhận biết.
    Việc chống Tàu qua ngôn ngữ nô lệ và mất nước này sẽ không dễ dàng vì bọn tay sai Việt cộng, theo lệnh chủ, đang tận sức phá nát ngôn ngữ Việt chính thống nhắm thay thế và áp đặt ách nô lệ qua ngôn ngữ trong mọi hoàn cảnh. Người dân Việt vô tình, nhưng bọn Việt cộng lại quyết tâm. Tránh sao khỏi cảnh này. Bao năm qua vì vô tình, không đế ý, nhiều người đã dùng đến quen miệng. Bây giờ mở miệng ra nói khác đi chắc chắn sẽ khó làm được ngay. Nếu không tin, mọi người hãy thử và sẽ thấy rõ tác dụng này.
    Bảo rằng do thói quen, thì nên tự hỏi mình có dám bỏ cái thói quen này hay không? Dĩ nhiên, không mấy ai dám chấp nhận rằng vì sợ nên phải dùng hai chữ Trung Quốc. Vẫn có nhiều người sẽ tìm đủ lý do để biện minh cho hai chữ Trung Quốc nơi cửa miệng.
    Chắc chắn có người sẽ cho rằng Trung Hoa hay Trung Quốc cũng chỉ là danh xưng, đâu có gì quan trọng. Những người này đang tự lừa dối chính mình và cố tình dùng xảo ngôn để lấp liếm và che dấu căn bệnh nô lệ truyền đời. Nếu chỉ là danh từ, và không có ý gì, thì tại sao không dám gọi là Tàu cộng?

    Nhưng xin hãy tự hỏi mình rằng; cô nữ sinh viên Nguyễn Phương Uyên dù đang sống dưới sự cai trị của Việt cộng, vẫn dám gọi là Tàu khựa. Và chính họ cũng gọi họ là Tàu. Vậy tại sao mình phải tìm đủ lý do để dùng hai chữ Trung Quốc? Hãy cố gắng tự nhớ lại xem mình bắt đầu dùng từ lúc nào, để bây giờ gọi là quen miệng? Và tại sao mình không dám gọi là Tàu cộng?
    Nếu không dám tức đã có nỗi lo sợ ẩn sâu trong đầu. Bởi sợ mới không dám. Sợ điều gì? Sợ ai? Hoàn toàn tìm không ra dấu vết. Đây chính là cái tác dụng của sự nô lệ và hèn nhược qua ảnh hưởng của ngôn ngữ. Đây cũng là hậu quả của sự khống chế tư tưởng (mind control) đã nêu ra ở trên. Có vài người, vì mặc cảm tự ti kém khuyết, để tự gạt mình nhằm che dấu căn bệnh nô lệ ẩn sâu trong tư tưởng, họ bảo rằng gọi như thế sẽ làm giảm giá trị trình độ trí thức và lịch sự của họ. Vì thế họ chỉ dám dùng chữ Trung Quốc, Trung Hoa để chứng tỏ họ là kẻ có học thức, là người lịch sự.
    Khi vua Quang Trung tuyên bố trước ba quân: “Phải đuổi hết lũ giặc phương Bắc ra khỏi bờ cõi. Đánh cho chúng nó không còn manh giáp.” Ai dám bảo vua Quang Trung là phường vô học?
    Trong cuộc hải chiến Hoàng Sa, tháng 1/1974, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh cho Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa: “Các anh cứ đánh tụi nó thẳng tay cho tôi.” Ai dám bảo tổng thống Nguyễn Văn Thiệu là người thiếu lịch sự?
    Để giữ gìn nền độc lập và tinh thần tự chủ của dân tộc, mong rằng những người Việt này cũng nên từ bỏ cái ảo giác có học thức và lịch sự của mình.
    Nên hiểu rằng khi người Tây phương gọi những xứ này là China, Sino, Chinois, qua ngôn ngữ của họ, trong đầu họ vẫn xem đó là xứ Tần. Qua ngôn ngữ xử dụng, họ hoàn toàn không có khái niệm hay ý nghĩ gì về một Nước Ở Giữa cả. Trong khi đó, người Việt nói đến hai chữ Trung Quốc, chắc chắn cái hình ảnh Nước Ở Giữa đã thấp thoáng trong đầu. Xin mọi người để ý đến điều này.
    Nếu người đọc vẫn tìm mọi cách để chống chế, vẫn chưa đồng ý, và chưa hiểu rõ tác dụng của ngôn ngữ, xin nêu ra một thí dụ để chúng ta cùng nhận xét.
    Khi nghe nói đến các chữ; cô ấy, bà ấy hay mụ ấy, trong đầu người nói và người nghe đều có ba hình ảnh khác nhau. Một cô gái trẻ đẹp (cô ấy), một người phụ nữ lớn tuổi (bà ấy) và một người phụ nữ xấu xí, lôì thôi lếch thếch (mụ ấy). Khi nói và nghe chữ Trung Quốc hay Tàu cộng cũng có tác dụng tương tự. Xin mọi người hãy tự suy nghiệm.

    Ngôn ngữ thể hiện tâm lý là điều ai cũng hiểu và đồng ý. Nếu không thế, cô sinh viên Nguyễn Phương Uyên đã không nói: “Tàu khựa hãy chết đi.” Và nếu không hiểu ý này, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đã không bắt cô ta. Thật ra, vì hiểu nên họ quá lo sợ bị ông chủ phương Bắc trừng trị, nên họ phải bắt cô ta. Hãy thử tượng tượng cái tác dụng tâm lý khi cô sinh viên này nói: “Trung Quốc khựa hãy chết đi.” Rõ ràng, câu này hoàn toàn không có tác dụng. Bởi tự nó đã thể hiện cái tâm lý nhu nhược hèn yếu và nô lệ qua hai chữ Trung Quốc trong câu. Hy vọng nhiều người Việt sẽ nhận rõ điềư này.
    Khi đăng những bản tin ghe thuyền của Tàu cộng tấn công ngư dân Việt, báo chí Việt cộng chỉ dám dùng hai chữ tàu lạ. Mọi người đều hiểu tại sao. Ở đây chúng ta không cần diễn giải thêm. Rõ ràng là ngôn ngữ thể hiện tâm lý của người xử dụng. Và ai cũng hiểu đó lá cái tâm lý hèn hạ nhu nhược nô lệ của người cộng sản Việt Nam đối với bọn giặc phương Bắc.
    Tương tự như thế, bất kỳ ai, mở miệng dùng hai chữ Trung Quốc cũng không thoát khỏi tâm lý này, dù họ có lớn tiếng hô to: “Đả đảo Trung Quốc xâm lược.” Hãy tự hỏi chính mình, tại sao mình không mở miệng nói được câu: “Đả đảo Tàu cộng xâm lược.” Chẳng lẽ mình vẫn còn muốn chứng tỏ cho người khác biết mình là con người có học thức và lịch sự?
    Đã không xóa nổi hai chữ Trung Quốc ra khỏi đầu thì khoan nói đến chuyện chống Việt cộng hay Tàu cộng. Nếu chỉ là danh từ, tại sao không dám gọi là Tàu cộng? Không nên tiếp tục lừa dối chính mình nữa. Xin suy nghĩ kỹ điều này.

    Việt Nam cộng sản gọi là Việt cộng. Trung Hoa cộng sản gọi là Trung cộng. Đâu có gì là không học thức, không lịch sự ở đây. Mà đối với bọn giặc Bắc, trong khi họ luôn tìm cách tiêu diệt mình, mà mình cứ mãi lịch sự với họ thì quả là một tâm lý bệnh hoạn. Ở đây chúng ta không thể dùng chữ nhu nhược, mà phải gọi là bệnh hoạn. Chúng ta thấy vẫn còn nhiều người Việt mang nặng cái tâm lý bệnh hoạn này trong đầu.
    Những người đảng viên cộng sản Việt Nam chắc chắn sẽ không bao giờ dám mở miệng nói đến chữ Tàu, dù là; ông Tàu vĩ đại, bác Tàu kính yêu. Chỉ nghe đến cái âm Tàu họ cũng đã hoảng sợ đến kinh người. Vì quá kinh sợ họ trở nên tức giận điên cuồng. Đối với họ, đó là loại ngôn ngữ phạm thượng. Quen sống kiếp nô lệ, họ không thể nào chấp nhận loại ngôn ngữ phạm thượng này đối với ông chủ phương Bắc được. Và cho đó là ngôn ngữ phản động. Bởi thế họ phải bắt ngay cô sinh viên Nguyễn Phương Uyên.
    Đến hôm nay, chúng ta đều thấy rõ rằng; nhóm cầm quyền cộng sản Việt Namchỉ giỏi hèn với giặc, nhưng luôn ác với dân. Để chứng tỏ mình không hèn với giặc, như bọn người đang sống kiếp nô lệ này, điều đầu tiên và dễ dàng nhất là mọi người nên vất bỏ hai chữ Trung Quốc ra khỏi ngôn ngữ của mình. Bảo là dễ dàng nhưng sẽ có rất nhiều người không làm nổi điều này.
    Tùy theo thái độ tâm lý, mỗi người sẽ tự chọn cho mình một loại ngôn ngữ thích hợp. Người nặng tinh thần nô lệ và bệnh hoạn sẽ có lý do để bảo vệ và tiếp tục xử dụng hai chữ Trung Quốc. Người nặng tinh thần tự trọng, hiểu rõ trách nhiệm trong việc giữ gìn nền độc lập và tinh thần tự chủ của dân tộc sẽ có lý do để loại bỏ chữ Trung Quốc và thay vào đó là Tàu.
    Tâm lý tức giận sẽ dùng ngôn ngữ phẫn nộ. Tâm lý tự chủ sẽ dùng ngôn ngữ độc lập. Tâm lý hèn nhược sẽ dùng ngôn ngữ nô lệ. Điều này không ai chối cãi được. Và vì thế, xin mọi người Việt chúng ta nên loại bỏ hai chữ Trung Quốc để thể hiện tinh thần độc lập, tự chủ và bất khuất ngay trong ngôn ngữ xử dụng hằng ngày. Hy vọng nhiều người sẽ đồng ý với đề nghị này. Nhưng đối với người đảng viên cộng sản Việt Nam thì vô phương. Họ đã chọn kiếp sống tay sai, nô lệ, vô tổ quốc, phi dân tộc từ thuở chào đời. Chúng ta không mong gì họ thay đổi được.
    Đã giúp mình và cũng giúp người. Mọi người Việt cùng nhau giữ nước qua ngôn ngữ. Vô cùng quan trọng nhưng lại không hề tốn một giọt máu. Tại sao chúng ta không chịu làm?
    Đây là điều đầu tiên và căn bản, vô cùng quan trọng, trong tinh thần chống lại bọn giặc phương Bắc.
    Xin nêu ra nơi đây một bài học lịch sử để mọi người cùng suy nghiệm.
    Chọn ngôn ngữ để làm quốc ngữ cho một quốc gia vừa mới khai sinh là điều vô cùng quan trọng trong việc giữ gìn nền độc lập. Ngay sau khi Hoa Kỳ giành độc lập từ tay đế quốc Anh, người Mỹ đã nghiên cứu cẩn thận trong việc chọn tiếng Anh hay tiếng Đức dùng làm quốc ngữ. Họ không chọn tiếng Tây Ban Nha vì lúc bấy giờ, ảnh hưởng của Tây Ban Nha đã tràn khắp Nam Mỹ và phần đất phía tây Bắc Mỹ. Cuối cùng, do kết quả cuộc bầu phiếu, tiếng Anh được chọn vì hơn tiếng Đức một lá phiếu.

    Nhưng ngay sau đó, ông Noah Webster đã bỏ ra 20 năm liên tục để thành lập tiếng Mỹ, như trường hợp tiếng Nam dưới thời nhà Trần. Ngoài việc sửa đổi cấu trúc văn phạm và ngữ pháp, ông còn thay đổi cả ngữ vựng, và thành lập cuốn Tự Điển Di Sản Hoa Kỳ (American Heritage Dictionnary) cho dân chúng Mỹ xử dụng. Điều đáng lưu ý, đáng khâm phục, và đáng để mọi người Việt chúng ta học hỏi, là từ đó và mãi về sau, từ tổng thống đến thường dân, mọi người Mỹ đồng lòng quyết không dùng tiếng Anh mà chỉ dùng tiếng Mỹ. Đến hôm nay chúng ta đều nhận biết sự phổ thông của tiếng Mỹ trên khắp thế giới mà hầu hết người Việt biết tiếng Mỹ đều quen thuộc.
    Xin ghi ra nơi đây vài thí dụ để mọi người cùng nhận thấy tinh thần quyết tâm giữ gìn độc lập và tự chủ của người dân Hoa Kỳ qua ngôn ngữ:
    —-Anh—- —-Mỹ—-
    colour color —-bỏ bớt giữa
    programme program —bỏ bớt cuối
    theatre theater —đảo chữ
    randomise randomize — đổi chữ
    water closet restroom — đặt danh từ mới
    Hiểu rõ sự quan trọng của ngôn ngữ đối với nền độc lập của một dân tộc, giặc phương Bắc đã tìm mọi cách hủy diệt chữ Nam của người Việt ngay từ thời nhà Trần. Chúng gọi một cách nhục mạ khinh bỉ là tiếng nôm na, hèn mạt để gạt ngưởi Việt biết chữ không thèm dùng đến. Thế mà đến nay vẫn có nhiều người trí thức học giả miệt mài gọi là chữ nôm. Điều này chẳng khác nào có kẻ côn đồ bảo trẻ con nên về nhà gọi cha mẹ chúng bằng thằng và nó. Vì ngu khờ kém suy nghĩ, đứa trẻ liền nghe theo và cứ thế mà gọi.
    Hiện nay, Tàu cộng bắt Việt cộng phải du nhập tiếng Tàu, và bằng mọi cách phải nhét vào đầu để nô lệ hóa người Việt qua ngôn ngữ. Xin nêu ra vài chữ như: động thái, quan ngại, bức xúc, tham quan, hộ khẩu, cải tạo, sự cố, hoành tráng, hiện trường, quan chức, đăng ký, hỗ trợ, đột xuất, và còn nhiều nữa. Vì cùng hệ thống đơn âm, họ chỉ cần dùng mẫu tự Việt diễn âm Tàu, và bắt mọi người Việt phải dùng, tức nghe và đọc trước rồi nói sau. Lúc đầu quen tai, quen mắt. Sau quen miệng. Thế là xong.
    Xin mọi người, còn nghĩ đến dân tộc và chống cộng, hãy nhớ lại xem mình đã bắt đầu dùng những từ ngữ này từ lúc nào. Và từ bây giờ trở đi mình có dám loại bỏ ngôn ngữ này và quyết tâm không dùng nữa hay không.
    Tại sao phải loại bỏ những ngôn ngữ này? Nếu hỏi người Mỹ, họ sẽ giải thích cho chúng ta hiểu lý do tại sao.
    Xin thưa thêm. Vì đây là loại ngôn ngữ mà ông Nguyễn Văn Luận, một người dân Hà Nội bị kẹt lại Miền Bắc từ năm 1954 đã nhận ra ngay là “ngoại ngữ Việt cộng” do Tàu cộng đem sang. Suốt 28 năm, mãi cho đến khi vượt biển tìm tự do và cuối cùng định cư tại Hoa Kỳ, ông Luận vẫn nhất định không dùng đến loại ngoại ngữ nô lệ và mất nước này. Thế mà hiện nay vẫn có nhiều người Việt, dù đang sống tại hải ngoại, hăng hái chống Tàu, chống cộng, nhưng sẵn sàng xử dụng loại ngôn ngữ nô lệ này. Lại có nhiều người dù không hiểu ý nghĩa nhưng vẫn dùng một cách hàm hồ và sai hoàn toàn ý nghĩa gốc trong tiếng Tàu. Thí dụ; chữ đột xuất có nghĩa là sự nổi bật (outstanding) hoàn toàn không có nghĩa của trạng từ chỉ thời gian như các chữ bất thình lình hay bất ngờ, trong tiếng Việt. Thật ra, bọn giặc Bắc đâu cần thắc mắc chuyện người Việt dùng đúng nghĩa hay sai nghĩa. Cứ nhét được những loại ngôn ngữ này vào đầu dân Việt là chúng thành công. Một vài kẻ đã không biết mình ngu và dại, lại còn lớn tiếng biện minh cho hành động bệnh hoạn này. Vua Quang Trung mà còn sống, chắc chắn ngài sẽ phân thây bọn người mất gốc này để diệt trừ mầm nô lệ cho dân tộc.

    Báo chí và truyền thông tại Việt Nam cộng sản hiện nay bắt buộc phải dùng loại ngoại ngữ Việt cộng này. Với kiếp sống của kẻ tay sai và nô lệ, họ không thể làm khác hơn được. Bởi đây là sách lược nô lệ của Tàu cộng đưa ra và bắt Việt cộng phải thi hành.
    Tuy nhiên, trên nhiều diễn đàn ineternet của người Việt hải ngoại hiện nay chúng ta vẫn thấy đầy dẫy loại ngoại ngữ nô lệ và mất nước này. Về quy định ngôn từ, nơi nào cũng đưa ra những điều lệ căn bản là; không chấp nhận ngôn ngữ thô tục, và ngôn ngữ ca tụng Việt cộng; để chứng tỏ đây là nơi của những người có học thức, lịch sự, và quyết tâm chống cộng.
    Nhưng than ôi. Họ chấp nhận loại ngôn ngữ nô lệ ẩn chứa mầm hủy diệt tinh thần dân tộc của giặc phương Bắc mà họ không hề bận tâm. Không những thế loại ngôn ngữ này được truyền bá và phát huy khá mạnh mẽ.
    Đây là sự thể hiện một trình độ dân trí quá thấp kém của người Việt chúng ta.
    Bởi chúng ta chưa nhận thức rõ được sự quan trọng của ngôn ngữ đối với sự tồn vong của dân tộc. Hãy nhìn lại gương của dân chúng Hoa Kỳ trong việc xử dụng tiếng Mỹ để giữ gìn độc lập, may ra mọi người sẽ hiểu rõ vấn đề vô cùng quan trọng này cho dân tộc và đất nước.
    Là người Việt, hầu hết chúng ta ai cũng đã từng nghe và nói câu: “Tiếng Việt còn, Người Việt còn.” Nhưng chúng ta quên một điều vô cùng quan trọng là; tiếng Việt nô lệ, thì người Việt nô lệ. Và sự nô lệ này sẽ dẫn đến mất gốc và dân tộc bị hủy dìệt là điều không tránh khỏi.
    Mất đất, mất đảo còn có cơ hội lấy lại được. Nhưng mất người thì lấy ai mà đòi lại đất, giành lại biển?
    Chống cộng mà không chống nổi ngôn ngữ Việt cộng trong đầu thì vẫn là tự lừa dối chính mình. Người cộng sản Việt Nam biết chắc chắn họ luôn luôn thành công trong việc khống chế tư tưởng người dân Việt. Rõ ràng nhất là qua ngôn ngữ. Xin mọi người hãy nhìn lại ngôn ngữ mình xử dụng để chứng minh điều này.
    Có nhiều người chống cộng cảm thấy hài lòng qua việc xử dụng những danh từ miệt thị, khinh bỉ đối với những người cầm đầu cộng đảng Việt Nam hiện tai như: Trọng Lú, Sang Ngu, Dũng Dốt. Những người này vẫn mãi say sưa, tự thỏa mãn với câu: “Người khôn phải gọi thằng ngu bằng thầy!”
    Xin thưa! Nếu chúng ta khôn hơn họ, thì đã không bị họ khống chế từ cái đầu đến cái miệng suốt bao năm qua.
    Năm 1954, sau khi Việt cộng chiếm Miền Bắc, thi sĩ Trần Dần đã bàng hoàng thốt rằng:
    “Tôi bước đi không thấy phố thấy nhà,
    Chỉ thấy mưa sa trên nền cờ đỏ.”
    Hai câu thơ đã cho thấy hình ảnh thê lương tang tóc của đất nước dưới ách cai trị của người cộng sản. Thế nhưng, từ năm 1954, người dân Miền Bắc đã không chịu nhìn thấy điều này. Và người dân Miền Nam, năm 1975, cũng không muốn nhìn thấy điều này. Như thế, dù âm thầm không ai hay biết, nhưng số phận của đất nước Việt Nam đã được quyết định từ lâu.

    Tiền bạc là vật mà mọi người dân, dù không biết chữ, vẫn phải dùng đến hằng ngày. Thế là từ thời kỳ tem phiếu, mãi cho đến hiện nay, không một tờ giấy bạc nào không có hình của tên bán nước Hồ Chí Minh. Sau khi chết, chúng vẫn đem cái xác cáo mục rữa trấn ngay thủ đô Miền Bắc và bắt mọi người phải chiêm ngưỡng. Đến khi cướp Miền Nam, chúng liền xóa ngay địa danh Sài Gòn, tên gọi thủ đô của Việt Nam Cộng Hòa. Thay vào đó là tên cáo Hồ đã chết. Rồi chúng xây con đường trên cao nguyên dọc Trường Sơn, xương sống của bản đồ Việt Nam với tên đại lộ Hồ Chí Minh. Tất cả mọi việc trên đều nhằm mục đích thực hiện kế hoạch to lớn và lâu dài. Đó là khống chế tư tưởng toàn thể dân Việt qua những hình ảnh này. Hãy thử tính xem trong một ngày, hình ảnh của tên cáo Hồ bán nước đánh vào đầu người dân Việt bao nhiêu lần qua tờ giấy bạc. Đây là một kỹ thuật trấn áp tư tưởng vô cùng hiệu quả trên bình diện vô thức mà khoa Tâm Lý Học gọi là khống chế tư tưởng (mind control) vô cùng tinh xảo và thâm độc.
    Xin được nêu ra ở đây để những người vẫn còn ngây thơ cho rằng Việt cộng là những kẻ ngu ngốc nên suy nghĩ lại.
    Là một người Việt cộng nằm vùng tại Miền Nam trong thời kỳ chiến tranh, nên lúc bấy giờ ông y tá Nguyễn Tấn Dũng bắt buộc phải dùng ngôn ngữ của Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng ngay sau khi cộng sản cướp được Miền Nam , chắc chắn ông Dũng và bao nhiêu người cộng sản nằm vùng khác đã không thèm dùng tiếng Việt của Miền Nam ngày trước. Năm 2010, trong buổi trả lời trước quốc hội cộng sản, vì lúng túng, thủ tướng cộng sản họ Nguyễn đã lỡ miệng phát ra hai chữ “bảo đảm” của Việt Nam Cộng Hòa. Biết bị hớ, liền ngay sau đó ông ta vội vàng tìm mọi cách để chữa lại bằng hai chữ “đảm bảo” của Việt cộng cho mọi người ngồi dưới kia cùng nghe thật rõ. Chỉ bấy nhiêu cũng đủ để dạy cho nhiều người Việt trí thức chống cộng cần học bài học về sự quan trọng của ngôn ngữ, cùng thái độ quyết tâm của ông ta khi xử dụng ngôn ngữ. Có thể lỡ lời nói ra hai chữ bảo đảm. Nhưng chắc chắn ông Dũng không bao giờ dám lỡ miệng đảo thứ tự để nói nhà nước (trước) và đảng (sau) cả. Đến đây hy vọng nhiều người sẽ nhận ra sự quan trọng cùng sự quyết liệt của những người cộng sản trong việc xử dụng ngôn ngữ. Nói một cách khác, nhưng vô cùng thực tế, họ hiểu rõ quy luật sinh tử là, đối với họ: Dùng Chữ Sai Là Chết.
    Khi dùng ngôn ngữ Việt cộng để chống cộng, chống Tàu, chúng ta có thể nghe họ lớn tiếng cười mỉa mai khinh bỉ và bảo nhau rằng: “Cứ để cho bọn người đang sống ở hải ngoại đó chống cộng. Ngôn ngữ, tức cái đầu của chúng, mà đảng ta đổi tới thay lui chúng chẳng hề hay biết. Thế thì chúng chống cái chi. Ta vo tròn bóp méo cái đầu của chúng như thế mà chúng chẳng hay biết. Thì chúng chống được điều gì. Chúng đang sống nơi hải ngoại cách xa ngàn dặm, nhưng đảng ta nhét vào đầu chúng điều gì cũng được, thì có chi mà lo ngại. Ha ha ha. Chỉ cần mười năm nữa thì bọn người này sẽ nằm trong các nghĩa địa. Chẳng có chi để chúng ta phải bận tâm cả.”

    Chống Tàu cộng xâm lược, mà không chống nổi ngôn ngữ nô lệ của chúng đang bám chặt trong đầu, thì chỉ làm trò cười cho bọn tay sai Việt cộng là thế đấy. Nên hiểu rằng, Việt cộng không bao giờ lo ngại chuyện mìn bom súng đạn, chúng chỉ sợ cái đầu của người dân. Mà thể hiện của cái đầu là qua ngôn ngữ đang xử dụng. Mong mọi người nên suy nghĩ kỹ điều này.
    Hãy nhìn cô sinh viên trẻ tuổi Nguyễn Phương Uyên sẽ biết mình thế nào. Hãy nhìn bài học quốc ngữ của người Mỹ, hy vọng, và may ra, có người sẽ hiểu rõ sự quan trọng của ngôn ngữ trong việc giữ gìn nền độc lập và tinh thần tự chủ của dân tộc.
    Xin chuyển đến mọi người để cùng suy nghiệm và chọn loại ngôn ngữ thích hợp cho chính mình.

    Like

  7. TẮC TỊT BOM VƯƠN
    Biển đông mặt trận sóng thần
    Hiệp Chủng Quốc Mỹ cương cần xả Xì Trump
    Không bắn tỉa chẳng núp hầm
    Nam Trung Hải tắc tàu ngầm bắc Triều Tiên
    Kế tinh Bill sẽ khôn liền điều Hồ quang đảng yêu tiền tổng tấn công
    Hillary rỉ bên chồng
    Mao Trạch Đông vượt truông chông chống cộng hòa
    Chiến trường bợm bãi Gạc Ma Trường Sa băng quỷ nuôi gà ta thả vườn
    Đầm đìa tịt tiếng bom vươn
    Sáu mươi tư mạng lịch lươn chình vô thường
    Mưa Hồng Hạ Trắng kỉ cương
    Năm châu bốn bể nhiễu nhương sách Đỗ Mười
    Thăng Long IsIs đười ươi X đi Y đến tiếng cười nghẹn tháng năm
    Kê cao gối ngủ công lầm
    Đêm dài lắm mộng cõi âm Hồ Tập Chương
    Ba Đình ám tiển minh thương làm xương cho sáo lú mồng nhập thành đô
    TÂM THANH

    Like

Góp ý, Thảo luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: