Bài mới trên BÁO TỔ QUỐC

Ông Dương Văn Minh Vào Giờ Thứ 25

 Ông Thiệu từ chức ngày 21-4 -1975, khoảng bốn năm ngày sau báo chí Sài Gòn đăng tin Thiệu, Khiêm ra đi tại phi trường Tân Sơn Nhất trước sự căm phẫn của mọi người.

    Phó Tổng thống Trần Văn Hương lên thay ông Thiệu được bốn năm ngày bèn ngỏ lời với đồng bào về hiện tình đất nước trên đài phát thanh Sài Gòn, bằng giọng sướt mướt, thở than, đau khổ, ông vừa nói vừa khóc.

     “Tôi xin nói thiệt với đồng bào, tình hình hiện nay zô cùng bi đát… Ðồng bào cũng đã biết vùng Một vùng Hai miền Trung đã hoàn toàn tan rã, vùng Ba, vùng Bốn cũng nay cũng đã bị nhiều sứt mẻ. Rồi nay mai đây những trận đánh sấm sét sẽ đổ xuống và rồi Thủ đô Sài Gòn này sẽ thành cái núi xương sông máu. Tôi đã nghĩ đến cái cảnh núi xương sống máu ấy và đã bàn với anh Dương văn Minh, tôi có nói với ảnh như zầy “Bây giờ tôi bàn giao chính quyền cho anh, nhưng bàn giao để anh tìm cái giải pháp hoà bình cho đất nước chứ bàn giao cho anh để anh đầu hàng thì bàn giao làm gì. . hở trời!!. .

     Giọng ông già run run , thảm não, ông khóc thiệt tình khi nghĩ đến cái viễn tượng núi xương sông máu của Sài Gòn, những tiếng khóc não nùng của ông đã gieo kinh hoàng vào lòng mọi người. Bàn dân thiên hạ ai nấy hồn lạc phách siêu, họ không khỏi giật mình khiếp đảm khi thấy mọi bí mật quốc gia đã được nói huỵch toẹt trên làn sóng điện. Ðối với người Sài Gòn nay chỉ có thể xác là còn sống, tâm hồn coi như đã chết.

     Tin ông Dương Văn Minh sẽ được cử lên làm Tổng Thống thay thế ông Trần Văn Hương không còn là những lời đồn đãi nữa, chính ông Hương đã nói thẳng ra trên đài phát thanh.

    Chiều ngày 28-4-1975, đài phát thanh Sài Gòn tường trình buổi lễ bàn giao chức vụ Tổng thống giữa hai ông Trần Văn Hương và Dương văn Minh tại dinh Ðộc Lập, người xướng ngôn viên bằng một giọng bi quan não nùng nói.

     – Thưa quí vị, chúng tôi đang theo dõi để tường thuật cùng quí vị buổi lễ bàn giao lịch sử ngày hôm nay. Thưa quí vị, bầu trời hôm nay rất là u ám, y như hoàn cảnh đất nước của chúng ta hiện nay. Trong lúc này đang có những tiếng sấm sét nổ rền trên không, bầu trời hôm nay thật là ảm đạm, thưa quí vị tình hình đất nước chúng ta cũng vô cùng ảm đạm.

    Một lúc sau lễ bàn giao diễn ra trong bầu không khí buồn tẻ gượng gạo, ông Dương Văn Minh bằng giọng chậm chãi gọi ông Trần Văn Hương bằng thầy. Ðối với phía Cộng Hoà Miền Nam ông kêu gọi tinh thần hoà giải dân tộc, và bằng giọng ôn tồn, từ tốn ông khuyên nhủ nhân dân .

      “Xin đồng bào đừng vội bỏ nước ra đi mà hãy ở lại với quê cha đất tổ của mình”

    Báo chí xuất bản chiều nay đăng hình ông Dương Văn Minh mặc áo vét, thắt ca vát, tươi cười với hàng chữ lớn “ Ðại Tướng Dương Văn Minh Cứu Quốc…. ông Dương Văn Minh luôn tỏ ra là người của dân tộc”. Những trang báo cố gắng trấn an, lên giây cót tinh thần người dân Thủ đô vào giờ phút chót, nhưng một lúc sau nhiều tiếng nổ kinh thiên động địa từ phí phi trường Tân Sơn Nhất rung chuyển cả thành phố Sài Gòn, mấy chiếc phản lực cơ A-37 đang chúi xuống ném bom phi trường Tân Sơn Nhất, tại Phú Nhuận người ta nhìn thấy cả hình những trái bom y như những hạt đậu đang rơi xuống.

      Chừng hai mươi phút sau, một chiếc quay về phía dinh Ðộc Lập vừa bay vừa nhào lộn để tránh đạn, phía dinh có tiếng súng bắn lên dữ dội. Ngoài phố những người hiếu kỳ đứng coi bỗng dưng hết hồn bỏ chạy tán loạn. Mấy chiếc khác lừng lững bay về phía tây bắc trong khi cao xạ ở bến Bạch Ðằng bắn nổ lên nổ lụp bụp bên dưới máy bay.

     Phía đài phát thanh có nhiều tiếng súng và những tiếng nổ như lựu đạn. Khi ấy ông Dương Văn Minh lên tiếng trên radio cho biết năm phi cơ lạ ném bom phi trường Tân Sơn Nhất. Ðúng bẩy giờ đài BBC đọc bản tin tóm tắt về tình hình Việt Nam, người xướng ngôn viên nhấn mạnh từng câu từng chữ.

       “- Hôm nay tại Sài Gòn ông Dương Văn Minh được cử lên giữ chức vụ quyền Tổng thống thay thế ông Trần Văn Hương để chuẩn bị cho một cuộc đầu hàng.

     -Năm phi cơ lạ ném bom phi trường Tân Sơn Nhất.

     -Nhiều loạt súng nổ tại Sài Gòn không biết thuộc phe nào.

     Qua phần bình luận và nhận định người xướng ngôn cho biết lễ bàn giao chức vụ Tổng thống tại Dinh Ðộc lập chứng tỏ cho thấy sự tan rã của chính quyền Sài Gòn , người dân Sài Gòn nay đang từ chỗ lo sợ đến chỗ hốt hoảng.

     Cũng vào khoảng thời gian này mười năm về trước người Mỹ bắt đầu đổ quân vào Việt Nam. Tháng tư 1969, Wesmoreland tại Hoa Kỳ cho biết nếu Mỹ không đổ quân vào miền Nam Việt Nam 1965 thì sẽ mất trong 6 tháng. Quân số Mỹ tại Việt Nam tăng nhanh từ 184,000 người năm 1965 lên 385,000 năm 1966, rồi 485,000 năm 1967 và cao điểm là 536,000 năm 1968. Bắc Việt cùng lúc gia tăng xâm nhập. tiếp tục gia tăng nhân lực từ 180 ngàn năm 1964 lên tới 261 ngàn trong năm 1967. Kế hoạch “đánh cầm chừng, đánh cho nó sơ” để hăm doạ BV phải vào bàn hội nghị của McNamara-Johnson đã không đạt mục đích mà trái lại còn thúc đẩy phong trào phản chiến lên cao, nhất là sau Tết Mậu thân 1968.

       Năm 1969 Nixon lên làm tổng thống thừa hưởng gia tài đổ nát do Johnson và McNamara để lại khi mà phong trào phản chiến đang dâng lên như nước vỡ bờ. Mặc dù hứa hẹn trong khi tranh cử sẽ rút quân về nước trong danh dự nhưng Nixon vẫn nỗ lực tìm mọi cách bảo vệ Việt Nam chống lại sự gia tăng cường độ chiến tranh xâm lược của BV. Khác với Johnson trước đây vào những năm đầu cuộc chiến 1964, 1965… được quốc hội ủng hộ, Nixon ngày càng bị Quốc hội bó tay vì cuộc chiến tại đất nhà War at Home lên cao dữ dội. Quốc hội Mỹ phải theo dân để lấy phiếu, nhất là hồi ấy Dân chủ nắm đa số, họ mị dân, tất cả những điều bất thuận lợi đó ngày càng đè nặng lên chính phủ Nixon. Mặc dù giúp Việt Nam đánh qua các căn cứ hậu cần BV tại Mên, Lào nhưng bị chống đối dữ dội, cuộc chiến tại đất nhà quyết liệt nên không đat được kết quả mong muốn tại mặt trận Hạ Lào.

     Năm 1972 Nixon giúp VNCH đẩy lui cuộc xâm lăng ồ ạt của BV trong trận mùa hè đỏ lửa để lấy ưu thế trên bàn hội nghị và ký kết Hiệp định Paris ngày 27-1-1973 , rút quân và đem 587 tù binh về nước.

      Sau Hiệp định Paris, quân viện cho VNCH bị cắt giảm dần như sau:

      -Sau khi Mỹ rút, viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng Hoà:

     -Tài khoá 1973 : hai tỷ mốt (2,1 tỷ)

     -Tài khoá 1974 : một tỷ tư (1,4 tỷ)

     -Tài khoá 1975 : bẩy trăm triệu (0,7 tỷ).

      Năm 1975, giá dầu lên tiền mất giá, đạn tăng giá 27% nên tiền viện trợ chẳng mua được bao nhiêu. Theo ông Cao Văn Viên từ tháng 7-1974 cho tới tháng 4-1975 hoả lực quân đội VNCH giảm 73%, tháng 2 năm 1975 số đạn tồn kho các loại súng lớn, nhỏ chỉ còn đủ xử dụng 30 ngày. Trong khi viện trợ quân sự của Cộng Sản quốc tế cho Bắc việt giai đoạn 1973-1975 (649,246 tấn vũ khí) vẫn không thay đổi mấy so với giai đoạn 1969-1972 (684,666 tấn vũ khí).

     Lực lượng chính qui BV giai đoạn 1975 (20 sư đoàn) gấp hai lần hồi 1972 (10 sư đoàn), vũ khí đạn dược năm 1975 cũng gấp hai lần 1975 do BV tiết lộ trên báo Sài Gòn Giải Phóng năm 1976. Viện trợ quân sự của CS quốc tế cho BV năm 1975 và 1972 ngang nhau nhưng năm 1975 họ mang vào Nam được nhiều hơn vì đường xâm nhập từ 1973 coi như bỏ ngỏ.

      Mặc dù tình thế khó khăn bi đát nhưng ông Thiệu vẫn lạc quan tin tưởng vào lời hứa của Tổng thống Nixon, trong buổi họp quân sự cao cấp ngày 6-12-1974 (đúng một tuần trước khi BV tấn công Phước Long) tại dinh Ðộc Lập ông cho biết CSBV chưa đủ khả năng đánh vào các thành phố lớn, chỉ có thể phá hoại cuôc bầu cử tổng thống, ông đã cho sửa hiến pháp để ra ứng cử thêm một lần nữa.

      Ngày 10-3-1975, 3 sư đoàn CSBV tấn công chiềm Ban Mê Thuột. Ngày 11-3-1975 ông Thiệu họp tham mưu cao cấp tại Dinh Ðộc Lập quyết định tái phối trí lực lượng bỏ các vùng cao nguyên để giữ các vùng đông dân cư. Ngày 13-3-75 Quốc Hội Mỹ bác bỏ 300 triệu quân viện bổ túc. Hôm sau ngày 14-3-1975 ông ra lệnh rút bỏ Pleiku, Kontum về Qui nhơn đã dẫn đến thảm bại, theo ông Cao Văn Viên trong The Final Collapse.

      “Ít nhất 75% khả năng tác chiến của quân đoàn II bao gồm sư đoàn 23 bộ binh cũng như các lực lượng Biệt động quân, thiết giáp, pháo binh, công binh và truyền tin đã bị hủy hoại chỉ trong vòng có mười ngày”

     (Nguyễn Ðức Phương dịch , Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập trang 738 )

     Tại quân khu I, ông Thiệu cho rút sư đoàn Dù về đưa đi phòng thủ nhiều nơi khác. Ngày 19-3-1975, BV tấn công phía Bắc và Nam quân khu I, ông Thiệu cho lệnh rút bỏ Huế ngày 20-3 về Ðà Nẵng. Tại Huế sư đoàn I bị thiệt hại nặng ngày 22 rút về Ðà Nẵng, tan rã trên đường triệt thoái vào ngày 25, 26-3. Ngày 25-3 mất Huế và Chu Lai. Một nửa sư đoàn 2 phía nam quân khu được tầu chở ra Cù Lao Ré, số còn lại tan rã. Ngày 27-3 phòng thủ Ðà Nẵng trở lên vô hiệu trước sự hỗn loạn của thành phố, dân chạy loạn kéo về đông như kiến. Ngày 28-3 Cộng quân pháo vào thành phố gây nhiều thiệt hại nhân mạng, ngày 29-3 Tướng Trưởng xin lệnh bỏ Ðà Nẵng, thành phố lớn thứ hai của Việt Nam coi như thất thủ. Cuối tháng 3 -1975 quân khu I và II coi như hoàn toàn lọt vào tay CSBV

      Trước khi phát động cuộc tổng tấn công Hà Nội lên kế hoạch hai năm 1975 và 1976 để chiếm miền Nam nhưng sau cuộc triệt thoái Cao nguyên và tình hình các quân khu I, II của VNCH đang trên đà tan rã, Bộ Chính trị BV đã họp ngày 25-3-1975 và khẳng định thời cơ chiến lược mới đã đến, Hà Nội có điều kiện sớm hoàn thành cuộc tổng tiến công xâm lược, tập trung các lực lượng binh khí kỹ thuật giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa.

      Theo hồi ký của Văn Tiến Dũng, CSBV hối hả chuyên chở bằng cả ba phương tiện thủy, bộ và hàng không để để chuyển vận vũ khí, quân nhu, nhân lực … đánh xả láng một ván bài chót. Quân khu 5 của BV tổ chức một đoàn xe chở thẳng vào Nam Bộ tiếp liệu cũng như chiến lợi phẩm vừa lấy được của VNCH, đoàn xe do Thiếu Tướng Võ Thứ, phó Tư lệnh Quân khu 5 chỉ huy. Trong khi ấy các sân bay Gia Lâm, Vĩnh Phú, Ðồng Hới, Phú Bài, Ðà Nẵng, Kontum…nhộn nhịp khác thường, các loại máy bay lên thẳng, vận tải, chở khách đều được huy động để chở người, súng đạn, vũ khí, chở sách báo phim ảnh, tranh, nhạc .. mà còn chở hàng tấn bản đồ Sài Gòn – Gia Ðịnh vừa in xong ở xưởng in Bộ Tổng tham mưu tại Hà Nội.

        Các bến sông Hồng, sông Gianh, sông Mã, sông Hàn và các bến cảng Hải Phòng, Cửa Hội, Thuận An, Ðà Nẵng… ngày đêm nhộn nhịp. Các mặt hàng quân sự được bốc xếp kịp thời lên các đoàn tầu vận tải của Bộ Giao Thông vận tải và tầu Hải Quân nhân dân để đưa vào Nam. Hà Nội huy động hết mọi phương tiện thủy bộ, hàng không để chuyển ra mặt trận một số lượng quân đội và vũ khí lớn chưa từng có.

      Ngày 4-4-1975 Phan Rang và Phan Thiết được sáp nhập vào Quân khu 3.

     Từ ngày 8-4 -1975 Lê Ðức Thọ, người thực sự cầm đầu Bắc Việt chủ tọa phiên họp tại Lộc Ninh với các cán bộ thuộc Trung ương Cục miền Nam và Bộ Tổng tham mưu CS. Thọ tuyên bố thành lập Bộ Tư lệnh chiến dịch giải phóng Sài Gòn Chợ Lớn đặt tên là Chiến Dịch Hồ Chí Minh , Tư lệnh Ðại Tướng Văn Tiến Dũng, Chính ủy Phạm Hùng, Phó Tư Lệïnh Thượng Tướng Trần Văn Trà

     BV tấn công Phan Rang ngày 14-4-75 tới ngày 16 thì chiếm được thị xã, hai ngày sau 18-4 Phan Thiết cũng lọt vào tay BV.

      Từ ngày 9-4-75 đến 15-4 sư đoàn 18 BB cầm cự anh dũng đẩy lui các đợt tấn công của BV, năm ngày sau có lệnh lui binh.

     Ngày 18-4 Quốc Hội Mỹ bác bỏ 722 triệu quân viện khẩn cấp do Tổng thống Ford đưa ra. Giới chức ngoại giao quốc tế vận động BV thương thuyết nhưng họ chỉ đòi nói chuyện với Dương Văn Minh, yêu cầu ông Nguyễn Văn Thiệu phải từ chức. Ngày 21-4 ông Thiệu từ chức, phó Tổng thống Trần văn Hương lên thay. Ngày 24-4 ông Thiệu và Thủ tướng Khiêm bỏ nước ra đi.

     CSBV đã đưa các quân đoàn vào sát vòng đai phòng thủ Sài Gòn chuẩn bị tấn công, cán cân quân sự nghiêng về phía Bắc Việt. Theo tài liệu phía CS lực lượng của họ gồm : 4 quân đoàn 1, 2, 3, 4, và đoàn 232 bao gồm 15 sư đoàn bộ binh, 5 lữ đoàn bộ binh biệt lập, 4 trung đoàn tăng, thiết giáp và 6 trung đoàn đặc công. Quân số tổng cộng khoảng 280 ngàn với 400 xe tăng và 420 pháo.

      Lực lượng tấn công của BV tương đương với 20 sư đoàn. Lực lượng VNCH gồm các sư đoàn 25, sư đoàn 5, sư đoàn 18 (bị thiệt hại nhiều sau trận Long Khánh), sư đoàn Biệt động quân 106 mới thành lập, sư đoàn 22 di tản, các lữ đoàn Dù và TQLC di tản, địa phương quân nghĩa quân… toàn bộ tương đương với 5 hoặc 6 sư đoàn. Theo ông Cao văn Viên đạn dược tại quân khu III chỉ còn đủ xài trong khoảng hai tuần lễ (Những Ngày Cuối Của VNCH, trang 92)

      Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn Tư lệnh Quân đoàn 3 VNCH khi ấy đã tổ chức phòng thủ Sài Gòn trên 5 tuyến chính với khoảng cách tới trung tâm thành phố xa hơn tầm pháo của đại bác 130 ly của BV đồng thời bảo vệ các căn cứ quan trọng tại Biên Hoà, Củ chi, Lai Khê, Long Bình.

      Phía Tây Bắc là Tuyến Củ Chi với Sư đoàn 25 bộ binh (BB) và hai Liên đoàn 8, 9 Biệt động quân. Tuyến Bình Dương ở phía Bắc với Sư đoàn 5 BB. Tuyến Biên Hoà phía Ðông Bắc với Sư đoàn 18 BB và lực lượng Xung kích Quân đoàn 3. Tuyến Vũng tầu và Quốc lộ 15 do Lữ đoàn 1 Dù cùng với một Tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 3 BB và các đơn vị Thiết giáp, ÐPQ, Nghĩa quân của Tiểu khu Phước Tuy phụ trách. Tuyến Long An phía Nam ngoài lực lượng ÐPQ, Nghĩa quân cơ hữu còn có Sư đoàn 22 BB phụ trách cộng với sự tăng cường của Trung đoàn 12 thuộc Sư đoàn 7 BB, Trung đoàn 14 thuộc Sư đoàn 9 BB và Liên đoàn 6 BÐQ.

      Năm tuyến phòng thủ chính của VNCH cũng trùng với 5 hướng tấn công của năm Quân đoàn BV

      Ngày 26-4-1975 BV đã bắt đầu tấn công vào Trường Thiết Giáp Long Thành, căn cứ Nước Trong, đặc công tấn công Tân cảng , cầu xa lộ, đài ra đa Phú Lâm … nhưng thất bại bị đẩy lui. Bắc Việt đã cho mở chiến dịch Hồ Chí Minh từ 26-4, hai ngày trước khi ông Dương Văn Minh lên làm Tổng Thống chứng tỏ họ không đếm xỉa gì tới việc thương thuyết.

      Ngày 27-4 tại nghị trường Diên Hồng lưỡng viện quốc hội họp bỏ phiếu thuận trao quyền Tổng thống cho ông Dương Văn Minh. Sáng ngày 27-4 Sư đoàn 3 BV tấn công chiếm Phước Lễ, Lữ đoàn Dù rút về Vũng Tầu, Sư đoàn 18 được lệnh lui về giữ Trảng Bom. Phía Tây các căn cứ dọc theo Vàm Cỏ Ðông lần lượt bị Cộng quân chiếm. BV pháo phi trường Biên Hoà dữ dội, Sư đoàn 3 Không quân phải di tản về Tân Sơn Nhất và Cần thơ. Phía Tây Nam Ðoàn 232 CS (gồm 3 Sư đoàn) cắt Quốc lộ 4 nhiều nơi để chận viện binh từ Quân khu 4, phía Bắc Quân đoàn 1 BV tiến về Thủ Ðầu Một, phía Tây Bắc Quân đoàn 3 BV cắt Quốc lộ 1 và 21 để chặn đường rút của Sư đoàn 25 BB.

      Chiều ngày 28-4 -1975 Ðại Tướng Dương Văn Minh tuyên thệ nhậm chức Tổng thống tại dinh Ðộc Lập. Chừng một tiếng sau, tên trung úy phi công nằm vùng Nguyễn Thành Trung hướng dẫn năm phi cơ A-37 của ta do Việt Cộng chiếm được ném bom phi trường Tân Sơn Nhất rung chuyển cả trời đất khiến dân chúng Ðô Thành hốt hoảng.

       Từ 4 giờ sáng ngày 29-4 Bộ TTM, phi trường Tân Sơn nhất, BTL Hải quân bị pháo kích dữ dội. Cộng quân chiếm được Nhơn Trạch đặt hai khẩu 130 ly pháo 300 quả vào Tân Sơn Nhất gây nhiều thiệt hại nặng. Các bãi đậu phi cơ, bồn chứa nhiên liệu, kho đạn bị trúng pháo kích gây nhiều đám cháy lớn. Sư đoàn 325 BV chiếm Nhơn Trạch, thành Tuy Hạ, tiến về Cát Lái. Sư đoàn 304 chiếm căn cứ Nước Trong.

      Trong khi ấy ông Dương văn Minh cử ba người sứ giả đến trại David tại Tân Sơn Nhất để thương thuyết ngưng bắn với phái đoàn Quân sự VC nhưng bị Ðại tá Võ Ðông Giang bác bỏ.

     Sáng ngày 29-4 Thủ tướng Vũ Văn Mẫu đọc Văn thư của Tổng thống Dương Văn Minh yêu cầu cơ quan Tùy viên quân sự DAO phải rút lui trong vòng 24 giờ đồng hồ. Ngay sau đó đoàn trực thăng gồm 80 chiếc từ hạm đội vào phi trường Tân Sơn Nhất và tòa Ðại Sứ Mỹ để di tản một nghìn người Mỹ và sáu nghìn người Việt ra ngoài hạm đội sau 19 giờ bay liên tục.

      Trưa ngày 29-4 các vị Tướng lãnh có thẩm quyền tại Bộ Tổng tham mưu và Biệt khu Thủ đô đều đã “tẩu vi thượng sách”. Khoảng 3 giờ chiều, ông Dương Văn Minh cử một số Tướng lãnh và cựu Tướng lãnh vào làm việc tại BTTM: Trung tướng Vĩnh Lộc Tổng tham mưu trưởng, Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh phụ tá, Lâm Văn Phát Tư Lệnh Biệt Khu Thủ đô. Chiều 29-4 Trung Tướng Vĩnh Lộc họp các Tướng lãnh, sĩ quan cao cấp còn sót lại và kêu gọi mọi người cố gắng hoàn tất trách nhiệm. Tối 29-4 ông Dương Văn Minh vẫn kêu gọi các lực lượng Quân đội VNCH trên đài phát thanh, lời kêu gọi lập đi lập lại suốt đêm.

     “Các vị Tư lệnh Quân đoàn, Sư đoàn hãy giữ vững vị trí và chờ lệnh mới”

      Tân Tổng Tham mưu trưởng Vĩnh Lộc lớn tiếng chỉ trích Thiệu và kêu gọi anh em binh sĩ giữ vững phòng tuyến.

 Hắn đã để cho cả một đạo quân tháo chạy như một lũ chuột, chính y gây ra thảm trạng này và bây giờ cũng chính y là người bỏ trốn.

    Theo lời kể của Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi, Tư lệnh lực lượng xung kích Quân đoàn III, vào lúc 12 giờ trưa ngày 29-4-1975, Trung tướng Nguyễn Văn Toàn triệu tập một phiên họp khẩn cấp tại Bộ Tư lệnh Sư đoàn 18 tại Long Bình, chỉ có ba ông: Tướng Toàn, Tướng Khôi và Tướng Lê Minh Ðảo (Tư lệnh sư đoàn 18). Tướng Toàn ban lệnh cho Tướng Ðảo bảo vệ Long Bình, Tướng Khôi bảo vệ Biên Hoà. Khi ấy sư đoàn 25 BB tại Củ Chi đã bị đánh tan, Chuẩn Tướng Lý Tòng Bá bị bắt nhưng Tướng Toàn dấu không cho Tướng Khôi và Tướng Ðảo biết. Sau đó Tướng Toàn sắp xếp để bỏ trốn bằng trực thăng ra Vũng Tầu cùng các Tướng Lãm, Tướng Hiệp lên tầu đánh cá ra khơi

     Buổi chiều 29-4 Bộ Tư lệnh Hải quân và Không quân di tản. Một Liên đoàn BÐQ tại Bến Tranh Bắc Mỹ Tho được lệnh trực thăng vận về Cần Ðước ngăn chận Việt Cộng trên liên tỉnh lộ 5A nhưng không có trực thăng, do đó Chợ Lớn được coi như bỏ ngỏ.

      Mười giờ tối 29-4 Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi liên lạc với Bộ Tổng Tham mưu, Trung tướng Nguyễn Hữu Có trả lời cho biết ông đang ở bên cạnh Ðại tướng Dương Văn Minh (tại dinh Ðộc Lập)

     “Ðến 22 giờ 10 có chuông điện thoại reo Trung Tướng Nguyễn Hữu Có gọi tôi ở đầu giây:

     -Tôi là Trung Tướng Có đây, tôi đang ở bên cạnh Ðại Tướng, anh cho chúng tôi biết tình hình ở Biên Hoà như thế nào?

     -Thưa Trung tướng tôi giữ thị xã Biên Hoà , Ðảo giữ Long Bình, Toàn đã bỏ chạy, phi trường Biên Hoà bị địch chiếm, áp lực địch rất nặng ở hướng Bắc và Ðông Biên Hoà.

     1, 2, 3 phút trôi qua, ở đầu giây Tướng Có nói tiếp:

     -Ðại Tướng hỏi anh có thể giữ vững Biên Hoà đến 8 giờ sáng mai, để Ðại Tướng nói chuyện với bên kia được không?

     Tôi trả lời không do dự.

    -Ðược, tôi có thể giữ vững Biên Hoà đến 08 giờ sáng mai”

     Trong máy điện thoại, tôi nghe văng vẳng tiếng nói của Tướng Có báo cáo lại với Ðại Tướng Minh. Cuối cùng Tướng Có nói:

      -Lệnh của Ðại Tướng cho anh: Chỉ huy phòng thủ bảo vệ Biên Hoà đến 08 giờ sáng ngày 30-4-1975. Chúc anh thành công

     Tôi đáp nhận.

                    (Trích trong Chiến Ðấu Ðến Cùng: Vai Trò Của Lữ Ðoàn 3 Kỵ Binh…)

     Khoảng gần 2 giờ sáng 30-4 BV pháo kích thị xã Biên Hoà dữ dội rồi tập trung một lực lượng hỗn hợp bộ binh chiến xa cấp trung đoàn từ Ngã ba Hố Nai-Xa Lộ tấn công về hướng Bộ Tư Lệnh Quân đoàn III. Khi ấy Chiến đoàn 315 VNCH của trung tá Ðỗ Ðức Thảo xông ra chận địch, hoả lực chiến xa M-48 áp đảo Cộng quân, giao tranh quyết liệt, một số T-54 bị bắn cháy, địch phải rút . Lúc 2 giờ sáng Tướng Lê Minh Ðảo cho biết Long Bình đã bị tràn ngập phải rút về nghĩa trang quân đội rồi về hướng Thủ Ðức.

     Khoảng 3 giờ sáng BV lại pháo kích Biên Hoà rất mạnh và chính xác, Tướng Khôi đoán Cộng quân sẽ tấn công dứt điểm Biên Hoà và ông đã chuẩn bị tung cả ba chiến đoàn Thiết giáp vào trận đánh quyết định. Thật bất ngờ Cộng quân đưa chiến xa dẫn đầu, bộ binh theo sau liền bị Chiến đoàn 315 đánh chận đầu và bọc sườn khiến họ phải rút chạy ngược ra xa lộ, từ đó Biên Hoà yên tĩnh.

     Phía Bắc, căn cứ Lai Khê của Sư đoàn 5 bị địch pháo kích dữ dội, quận Bến Cát bị tấn công.

     Phía Tây 2 Liên đoàn 8, 9 BÐQ bị thiệt hại nặng , VC bỏ xác cả trăm người cùng 18 xe tăng bị bắn cháy, Quốc lộ 1 giữa Sài Gòn và Củ Chi bị gián đoạn.

     Sư đoàn 22 BB vẫn làm chủ được tình hình phía Nam mặc dù bị tấn công.

     Ngày 30-4 Trung đoàn 24 BV (SÐ 10) giao tranh ác liệt với quân Dù tại Ngã Tư Bẩy Hiền và Lăng Cha Cả, Cộng quân bị thiệt hại nặng tới 50% quân số. BV tấn công trại Hoàng Hoa Thám, BTL không quân. BV xâm nhập Ngã Tư Bẩy Hiền, trong vòng 15 phút có 6 chiến xa bị Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù bắn hạ, họ bị chận đánh tơi bời phải rút khỏi ngã tư Bẩy Hiền.

    Theo Tướng Hoàng Lạc, ông Dương Văn Minh lại cử người tới Tân Sơn Nhất để thương thuyết với CS (trong phái đoàn quân sự) xem có vớt vát được tí nào không nhưng họ vẫn một mực đòi phải buông súng đầu hàng nếu không sẽ pháo kích tan nát thành phố. Sài Gòn bây giờ đang nằm trong tầm pháo của quân thù. Phòng tuyến đã dần dần sụp đổ dưới các đợt tấn công, pháo kích của BV, họ đã vào sát thành phố khó hy vọng gì cứu vãn được tình thế.

     Theo lời Tướng Khôi, 8 giờ sáng ngày 30-4 tại Biên Hoà, ông liên lạc với BTTM nhưng không được, ông bèn họp các lữ đoàn trưởng, liên đoàn trưởng, chiến đoàn trưởng để trao đổi tin tức, thảo luận tình hình mặt trận , tinh thần binh sĩ rất tốt, không có ai đào ngũ, các sĩ quan thi hành quân lệnh nghiêm chỉnh. Nửa giờ sau, tướng Khôi kết luận buổi họp, ông cho rằng Biên Hoà không còn là mục tiêu tấn công của BV, họ bỏ Biên Hoà tập trung lực lượng tấn công Sài Gòn. Tướng Khôi bèn ban lệnh hành quân điều động các đơn vị của Lực Lượng Xung Kích như Biệt Cách Dù, tiểu đoàn Dù, Lữ đoàn TQLC, lữ đoàn kỵ binh, các chiến đoàn 315, 322, 318 tiến về Sài Gòn theo đường xe lửa Biên Hoà-SàiGòn và xa lộ Ðại Hàn để cứu nguy Thủ đô.

    Có tin Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vĩ Tư lệnh Sư đoàn 5 tại Lai Khê cũng định chuyển quân về cứu Sài Gòn nhưng bị bao vây.

    Tướng Khôi duyệt đoàn quân lần cuối, các đơn vị VNCH rời Biên Hoà trong trật tự, trang phục chỉnh tề, tác phong nghiêm chỉnh, không hề nao núng, giống y như những lần hành quân trước đây khi còn Ðại Tướng Ðỗ Cao Trí chỉ huy xông trận trên chiến trường Campuchia. Sau đó ông lên trực thăng quan sát thấy tình hình yên tĩnh, các cánh quân ta tiến đều đặn về hướng về Sài Gòn, những ổ kháng cự của địch bên trục tiến quân bị đè bẹp ngay, khi ấy là 9 giờ sáng ngày 30-4. Tướng Khôi bay về hướng Gò vấp, từ trên cao nhìn xuống thấy những đoàn quân xa chở đầy lính, những xe tăng, xe kéo pháo của CSBV như những con rắn dài trên xa lộ Biên Hoà và trên Quốc lộ 13 bò vào Sài Gòn. Tướng Khôi đáp trực thăng xuống trại Phù Ðổng để liên lạc với BTTM, các cánh quân thiết giáp của ông vừa đến cầu Bình Triệu gần khu nhà thờ Fatima. Khi nghe máy thu thanh phát ra lời kêu gọi ngưng chiến đấu của Tổng thống, ông để cho các đơn vị tự động buông vũ khí và chấm dứt quyền chỉ huy của mình .

    Lúc 10 giờ rưỡi Tổng thống Dương Văn Minh trên radio lệnh cho sĩ quan các cấp hãy liên lạc với các đơn vị Cộng Hoà Miền Nam nơi gần nhất để giao nạp vũ khí, thực hiện ngưng bắn tại chỗ trong khi ông và chính phủ đang chờ các nhà lãnh đạo Cộng Hoà Miền Nam tới để bàn giao quyền hành tránh đổ máu vô ích. Chuẩn Tướng Nguyễn hữu Hạnh phó Tổng tham mưu trưởng cũng kêu gọi các cấp sĩ quan liên lạc các đơn vị CHMN nơi gần nhất để giao nạp vũ khí. Một giờ sau xe tăng BV vào dinh Ðộc Lập, họ buộc ông Dương Văn Minh phải lên đài phát thanh Sài Gòn tuyên bố đầu hàng.

    Các tài liệu Mỹ (Vietnam, A History; The World Almanac Of The Vietnam War) đều nói Bùi Tín là người đại diện CSBV vào tiếp thu dinh Ðộc Lập. Nay phía CS đưa ra rất nhiều nguồn tin khác nhau về cuộc tiếp thu này, có người nói Bùi Văn Tùng chính uỷ thiết giáp là người đã tiếp thu, có người nói Cao Ðăng Chiếm, có người nói Ðại tá Nam Long… Ðối với chúng ta những nguồn tin ấy chẳng có gì đáng bàn.

    Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân khu II sau khi nghe tin đầu hàng bèn uống thuốc độc tự sát. Tại Căn cứ Lai Khệ, Chuẩn tướng Lê Nguyên Vĩ, Tư lệnh sư đoàn 5 tự sát.

    Quân khu 4 vẫn còn nguyên vẹn 3 sư đoàn bộ binh 7, 9, 21 và gần 200 ngàn Ðịa phương quân, Nghĩa quân. Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam Tư lệnh Quân Khu IV không cho giật sập cầu Long An như Tỉnh trưởng đề nghị.

     Theo lời kể của Trung uý Lê Ngọc Danh, tuỳ viên của Tướng Nam thì ông là người nhân ái, sùng đạo Phật không muốn đổ máu thêm.

    “Là một tư lệnh Quân đoàn, đã nắm trong tay nhiều đơn vị trung thành, tướng Nguyễn Khoa Nam có thể ra lệnh tiếp tục chiến đấu, nhưng là vị tướng có lòng nhân ái, không muốn binh sĩ và đồng bào đổ máu vô ích, ông không cho phá cầu, ông không muốn có người chết thêm”

       Trích trong “Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam”, Bút ký của Trung úy Lê Ngọc Danh.

     Thiếu Tướng Lê Văn Hưng, Tư lệnh phó tự sát chiều tối 30-4, hôm sau 1-5 Tướng Nam cũng tự sát lúc 7 giờ rưỡi sáng, Chuẩn tướng Trần Văn Hai Tư lệnh Sư đoàn 7 cũng tuẫn tiết.

      Ngày 30-4-1975 kết thúc cuộc chiến tranh dài nhất thế kỷ khởi đầu từ nửa đêm 19-12-1946 khi Võ Nguyên Giáp ra lệnh tấn công quân Pháp tại Hà Nội. Trước đây tại các nước phương Tây cũng như tại Mỹ, những cuộc biểu tình rầm rộ chống chiến tranh, kết án chính sách xâm lược của Mỹ, đòi hoà bình cho Việt Nam… nhưng không thấy ai đòi CSVN rút quân về Bắc thực hiện đình chiến. Nay CSBV xé bỏ Hiệp Ðịnh Paris mới ký chưa ráo mực, xua đại binh công khai xâm lược miền Nam trước mắt quốc tế, trước mắt những nước đã ký kết và công nhận Hiệp định Paris. Nay thì cả thế giới cứ trơ mắt ếch ra mà nhìn chẳng thấy ai nói đến công bằng hợp tình hợp lý, như thế thì công bằng ở chỗ nào?

     Mười năm sau chiến tranh, năm 1985 cựu Ðại Sứ Mỹ Martin đã cho Giáo Sư Nguyễn Tiến Hưng coi bức thư của Tổng thống Dương Văn Minh gửi Martin do một sĩ quan trẻ từ Dinh Ðộc Lập mang qua sáng ngày 29-4. Bức thư yêu cầu cơ quan DAO rút lui trong vòng 24 giờ đồng. Giáo Sư Hưng cho rằng đây là một tài liệu lịch sử, văn kiện cuối cùng của VNCH gửi Mỹ, bức thư được in lại trong cuốn Khi Ðồng Minh Tháo Chạy trang 393 như sau:

     Góc bên trái đề :VNCH, Phủ TT, Số 033-TT/VT

      Giữa văn thư ghi:

     Mật Hoả Tốc.

           Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà

         Kính Gủi Ông Ðại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam.

      Thưa ông Ðại Sứ.

      Tôi trân trọng yêu cầu ông Ðại Sứ vui lòng ra chỉ thị cho các nhân viên của Cơ quan Tùy Viên Quốc Phòng DAO rời khỏi Việt nam trong vòng 24 giờ đồng hồ kể từ ngày 29-4-1975 để vấn đề hoà bình Việt Nam sớm được giải quyết.

     Trân trọng kính chào ông Ðại Sứ.

     Sài Gòn ngày 28-4-1975

    Ðại Tướng Dương Văn Minh

     Mật

     Giáo Sư Hưng có nói thêm:

     “Bình luận về thư này Kissinger nói thẳng ra: Vì lịch trình này trùng hợp với lịch trình rút lui của chúng tôi, nó đã thực sự giúp cho chúng tôi tháo ra mà không bị chỉ trích là Mỹ đã bỏ rơi đồng minh của mình

      (Trang 394)

      Khi Martin nhận thư của ông Dương Văn Minh, ông sai cô Eva Kim đánh thư trả lời Tổng thống Dương Văn Minh .

     “Kính Thưa Tổng Thống .

     Tôi vừa nhận đượïc thư của Ngài đề ngày 28-4 yêu cầu tôi ra chỉ thị ngay cho các nhân viên của Cơ quan Tùy Viên Quốc Phòng DAO rời khỏi Việt Nam trong 24 giờ đồng hồ.

    Tôi xin thông báo để Ngài hay là tôi đã ra chỉ thị như Ngài yêu cầu. Tôi tin rằng Ngài sẽ ra lệnh cho quân đội của chính phủ Ngài cộng tác bằng mọi cách để làm dễ dàng cho việc di chuyển các nhân viên DAO.

     Tôi cũng hy vọng Ngài sẽ can thiệp với phía bên kia (phía Bắc Việt) để Tùy Viên Quốc Phòng và nhân viên của ông ta được ra đi an toàn và trật tự”

    Trân trọng

    Graham Martin, Ðại sứ Hoa Kỳ.

         (Trang 394)

     Cũng về giai thoại ông Dương Văn Minh yêu cầu Mỹ rời Việt Nam trong vòng 24 giờ, cựu Ðại Tá Phạm Bá Hoa có kể lại trong bài Giờ Thứ 25: theo đó cựu Ðại Tá Nguyễn Linh Chiêu, bạn cũ của ông Dương Văn Minh đã kể lại ngày 15-11-1991 tại nhà riêng của ông Chiêu ở Orange County, ông cho biết đã có dịp tiếp xúc với ông Dương Văn Minh tại Paris đầu năm 1991.

     “Toàn bộ câu chuyện ngắn đó có đoạn cựu Ðại tá Chiêu hỏi cựu Tổng Thống Dương Văn Minh .

     -Tại sao anh mới nhận chức Tổng Thống mà anh ra lệnh đuổi Mỹ về nước?

    – ‘Moa’ không đuổi Mỹ. Bản văn đuổi Mỹ là do Ðại Sứ Martin (Hoa Kỳ) đưa cho ‘Moa’ và yêu cầu ‘Moa’ phổ biến.

     Phần cuối câu chuyện chỉ có thế nhưng nó cho thấy Hoa Kỳ đã an bài chiến tranh chống Cộng của Việt Nam Cộng Hoà chúng ta đến tận cùng chi tiết. Vì vậy mà chúng ta không ngạc nhiên khi bản văn “đuổi Mỹ” vừa phát đi trên làn sóng đài phát thanh Sài Gòn thì từng đoàn trực thăng Hoa Kỳ thuộc Hạm Ðội 7 của họ từ ngoài khơi Thái Bình Dương ào ào vào sài Gòn, cứ như các trực thăng đó túc trực ứng chiến trên đường bay của của Hàng Không Mẫu Hạm vậy”

      Trích trong Ðôi Giòng Ghi Nhớ, Hồi ký của cựu Ðại Tá Phạm Bá Hoa.

      Nay dần dần nhiều bí mật quốc gia đã được tiết lộ, nhờ đó chúng ta mới thấy tất cả chỉ là một tấn tuồng hề lịch sử, thật hết nước nói.

     Ngoài ra, sau ngày 30-4-1975, ông Nguyễn Văn Thành cựu Tổng thư ký phủ Phó Tổng thống tiết lộ : Khoảng hạ tuần tháng 4-1975, Ông Trần Văn Hương gặp ông Thiệu ở dinh Ðộc Lập về nói cho ông Thành biết là ông Ðại sứ Mỹ nhờ Ðại Sứ Anh nói với ông Thiệu hãy bàn giao chức Tổng thống cho ông Hương để ông Hương bàn giao cho ông Dương Văn Minh. Ông Hương rất bực tức nhưng không từ chối được.

     Theo giáo sư Nguyễn Tiến Hưng người Mỹ tin là Hà Nội mới đầu có ý thương thuyết sau lại thôi.

    “Bắc Việt đổi ý đêm 27-4.

     Tại Sài Gòn theo Ðại Sứ Martin, tuy là hồi tháng ba ông đã có tin tình báo là Hà Nội đã quyết định đi tới một chiến thắng hoàn toàn quân sự , nhưng cả ông và Polgar không đặt nặng sự chính xác của bản tin này.Theo ông lý do là vì cùng một lúc đó lại có thông tin từ phía đại diện của Mặt Trận Giải Phóng bên Âu châu, một từ Stocholm (Thụy Ðiển) và một từ Paris, cả hai đều cho biết rằng họ cũng muốn có một giải pháp chính trị. Ngoài ra Martin còn suy luận như đã trình bầy ở trên, là chính Hà Nội cũng muốn một giải pháp chính trị để kết thúc một cách êm đẹp vì họ còn muốn nhận được viện trợ của quốc tế sau này.

    Thế nhưng theo ông “Không hiểu vì một lý do nào đó, đêm ngày 27-4, Bắc Việt đã bất chợt thay đổi tín hiệu, quyết định chọn giải pháp hoàn toàn quân sự và như vậy giải pháp chính trị đã không còn nữa” về điểm này chính Kissinger cũng đã xác nhận trong một cuộc họp báo ngày 5 tháng 5, 1975 rằng cho tới ngày 27-4, Hoa Kỳ vẫn có nhiều hy vọng Hà Nội không định đi tới một chiến thắng hoàn toàn quân sự và còn muốn điều đình với ông Dương Văn Minh .

      Khi Ðồng Minh Tháo Chạy trang 390-391.

      Người Mỹ giả bộ ngây thơ khéo lắm, với cán cân lực lượng quân sự vào những ngày 26-4, 27-4-1975 nghiêng hẳn về phía Bắc Việt , họ lai muốn thương thuyết với ông Dương Văn Minh trong khi VNCH chỉ còn đạn đủ đánh trong mười mấy ngày? Khi cơm đã tới miệng rồi CS lại không chịu xơi? Lịch sử đã cho thấy CS chỉ chịu thương thuyết khi họ đang ở thế yếu thí dụ tại Hà Nội 1945.

     Từ sau ngày ký Hiệp Ðịnh Ba Lê đến tháng 10-1973 tình hình tương đối yên tĩnh. Tháng 6-1973 Quốc hội Mỹ biểu quyết cắt ngân khoản cho tất cả các hoạt động quân sự Mỹ tại Ðông Dương Việt, Miên, Lào. Tháng 10-1973 Quốc Hội ra đạo luật hạn chế quyền Tổng Thống về chiến tranh (War Powers Act), Tổng Thống phải tham khảo ý kiến Quốc Hội trước khi gửi quân đi tham chiến.

     Ðánh hơi thấy Mỹ bỏ Ðông Dương, Bắc Việt bèn thay đổi đường lối đấu tranh từ chính trị sang quân sự bạo lực. Ðại Hội 21 của Bộ Chính Trị tại Hà Nội trong tháng 10 quyết định đấu tranh quân sự, trước hết tiến đánh các đồn bót lẻ tẻ, phát triển tuyến đường xa lộ Ðông Trường Sơn.

     Sau khi ký Hiệp định Paris, Hà Nội cho khởi công xây tuyến đường xa lộ Ðông Trường Sơn hay hành lang 613, song song với đường mòn Hồ Chí Minh nhưng nằm trong địa phận Việt Nam Cộng Hoà từ Ðồng Hới cho tới Lộc Ninh, đến đầu 1975 thì công trình hoàn thành dài 1,200 km. Dọc theo Ðông Trường Sơn là hệ thống dẫn dầu từ Quảng Trị qua Tây Nguyên tới Lộc Ninh.

      Họ đã xử dụng 16 ngàn xe vận tải để chuyên chở binh khí, kỹ thuật, đạn dược, lương thực… chuẩn bị cho chiến trường miền Nam trong hai năm 1973 và 1974. Chiều dài toàn bộ hệ thống chiến lược Trường Sơn tới 1975 là 16 ngàn km gồm 5 hệ thống đường trục dài 5,500 km, 21 đường trục ngang dài 1,020 km, một đường hệ thống dẫn dầu dài 5,000 km.

      Như thế BV đã chuẩn bị cho kế hoạch đánh chiếm miền Nam bằng quân sự từ sau Hiệp định Paris, khó có thể tin rằng họ muốn thương thuyết bằng giải pháp chính trị như người Mỹ lầm tưởng hoặc giả vờ lầm tưởng

      Do sai lầm trong kế hoạch tái phối trí lực lượng của ông Thiệu, Quân khu I và Quân khu II đã lọt vào tay CSBV  nhanh chóng cuối tháng 3-1975, miền Nam mất khoảng hơn 40% vũ khí đạn dược , mất 40% các đơn vị tinh nhuệ, thiện chiến, thiệt hại khoảng trên 700 khẩu pháo, trên 800 thiết giáp.. các kho đạn, tiếp liệu tại miền Trung mất hết, một phần lớn lọt vào tay BV… Với tình hình này trong tháng 4-1975 miền Nam không còn một tia hy vọng tồn tại ngoại trừ sự yểm trợ của B-52.

     Khoảng 2-4 cho toi  26-4-1975, BV đưa nốt 3 sư đoàn tổng trừ bị (thuộc quân đoàn 1) vào Nam nâng tổng số lên gần 20 sư đoàn bao vây Sài Gòn chặt chẽ . (Toàn bộ lực lượng BV gồm 5 quân đoàn 1, 2, 3, 4, và 232 tổng cộng 15 sư đoàn bộ binh, 6 trung đoàn đặc công, trên mười trung đoàn độc lập) trong khi phòng tuyến bảo vệ VNCH chỉ có khoảng chưa tới 6 sư đoàn. Trước sự chênh lệch quá nhiều cả về vũ khí đạn dược và quân số như vậy tại sao BV lại phải thương thuyết với Dương Văn Minh? Theo ông Trần Văn Ðôn trong hồi ký Việt Nam Nhân Chứng , Ðại Sứ Martin cho biết Hà Nội chỉ muốn nói chuyện riêng với ông Dương Văn Minh mà thôi.

    Khoảng 22 tháng 4, Cộng quân pháo kích 4 hoả tiễn 120 ly nổ long trời vào Khánh Hội gây nhiều đám cháy lớn, đài BBC cho biết họ cảnh cáo chính phủ Sài Gòn phải bàn giao cho một chính quyền do họ chỉ định. BV cương quyết đòi ông Nguyễn Văn Thiệu và Trần Văn Hương phải từ chức bàn giao cho Dương Văn Minh để đánh lạc hướng, họ không muốn chính quyền Sài Gòn trong tay những người có lập trường chống Cộng cứng rắn như ông Thiệu ông Hương, họ sẽ phải tổn thất nhiều mới chiếm được một thành phố Sài Gòn tan nát. Với chính phủ ôn hoà Dương Văn Minh, cường độ chiến tranh sẽ nhẹ hơn, họ sẽ dễ dàng chiến thắng, chúng ta đã thấy từ 26-4-75, trước khi Dương Văn Minh lên làm Tổng Thống, Cộng quân đã bắt đầu mở chiến dịch Hồ chí Minh , họ không đếm xỉa gì tới thương thuyết.

    Người Mỹ cũng vờ vĩnh giàn xếp tìm giải pháp thoả hiệp để ru ngủ dân Sài Gòn ngõ hầu ra đi êm thắm, họ càng nói người ta càng thấy rõ bộ mặt giả nhân giả nghĩa.

     Ông Trần Bình Nam vừa tóm tắt một tài liệu của CIA mới giải mật ngày 19-2-2009, dài 243 trang (CIA and the generals: Covert Support to the military government in South Vietnam) đăng trên www.danchimviet.com, tuy nhiên Trần Bình Nam cũng cho biết, các tài liệu nhất là tình báo không hoàn toàn trung thực , chúng tôi xin trích một số đoạn dưới đây từ bài CIA Và Các Ông Tướng, Chương 9- Tìm Lối Ðầu Hàng Và Di Tản .

     Dưới đây là đoạn nói về BV quyết định dùng quân sự.

     “Ngày 16-4 quân đội Bắc Việt chiếm Phan Rang ……..Tin tình báo của CIA từ Hà Nội xác nhận tin đã biết rằng Hà Nội quyết định chiếm Sài Gòn bằng vũ lực càng sớm càng tốt, chậm lắm là trước ngày sinh nhật của ông Hồ Chí Minh 19-6.”

    Nói về việc bàn giao Tổng thống 28-4 dưới đây.

    “Sự nhậm chức của Minh không thay đổi gì kế hoạch của Hà Nội kết thức chiến tranh bằng vũ lực như nguồn tin tình báo từ Hà Nội đã cho biết”

       Ðoạn nói về Tướng Minh cử người ra Hà Nội thương thuyết khoảng 24, 25, 26-4 , về điểm này có khác với nguồn tin báo chí Sài Gòn hồi ấy cho biết miền Nam (ông Minh) đề nghị cử một bộ trưởng ra Bắc nhưng bị Hà Nội bác bỏ.

     “Phe tướng Minh cũng ráo riết chuẩn bị. Minh gửi hai phụ tá sang Paris gặp phái đoàn Bắc Việt và xin gửi một phái đoàn ra Hà Nội. Ðại diện Hà Nội trong Uỷ ban Quân sự bốn bên đề nghị phương tiện di chuyển với phái đoàn Hoa Kỳ, và Hoa Kỳ cho một                                                 máy bay đặc biệt đưa phái đoàn của Minh ra Bắc”

     Ðoạn dưới đây cho thấy Mỹ sắp xếp để Sài Gòn đầu hàng, chẳng thế mà ngay sau khi ông Dương Văn Minh lên làm Tổng thống, đài BBC đã nói trắng ra là để đầu hàng.

    “ Ngày 18-4 Hanos G Toth, một đại tá người Hungary trong phái đoàn quốc tế kiểm soát đình chiến gặp Polgar (CIA) và cho biết qua các cuộc nói chuyện với phái đoàn Hà Nội ông ghi nhận rằng Hà Nội chỉ muốn tăng sức ép để sài Gòn sụp dần chứ không muốn có một cuộc tấn công quân sự để kềt thúc chế độ. . . . Toth nói Hungary từng nếm mùi thất trận và tàn phá nên không muốn thấy Sài Gòn bị tàn phá như Berlin năm 1945. Polgar hiểu đây là lời nhắn của Hà Nội nên bên cạnh việc di tản, Polgar và đại sứ Martin lo tìm cách thuyết phục Thiệu từ chức và thành lập một chính phủ liên hiệp gồm   các thành phần thiên Cộng để đầu hàng “

      Nói chung hồ sơ giải mật trên cũng không mới lạ gì cho lắm, qua một số đoạn trích dẫn chúng ta thấy BV giả vờ thương thuyết để làm cho chính quyền Sài Gòn sớm tan rã. Còn phía Hoa Kỳ thì rõ ràng là họ sắp xếp đưa Dương Văn Minh lên để đầu hàng cho được việc nhà nước. Chẳng qua Dương Văn Minh cũng chỉ là quân cờ của Mỹ như Nguyễn Văn Thiệu mà thôi.

      Trong phần kết luận cuốn Những Ngày Cuối Của VNCH, cựu Tổng Tham mưu trưởng VNCH ông Cao Văn Viên có nói.

      “Cấp lãnh đạo VNCH không thấy rõ sự thay đổi về đường lối ngoại giao của Hoa Kỳ, khi Hoa Kỳ chuyển sang thái độ hoà hoãn, thoả hiệp với Cộng sản quốc tế – dù phải thất hứa với đồng minh. Vì không nhận rõ sự thay đổi ngoại giao của Hoa Kỳ, cấp lãnh đạo VNCH đã không uyển chuyển thay đổi kế hoạch quốc gia cho phù hợp với thực trạng và tình thế. Sau hiệp định Paris 1973, VNCH vẫn trông đợi vào những hứa hẹn xa vời và bất thể hiện”

        (Trang 236)

      Ông Cao Văn Viên cho thấy giới lãnh đạo VNCH, điển hình là ông Thiệu sai lầm ở chỗ vẫn theo đuổi kế hoạch quân sự cứng rắn mà theo cựu Ðại Tướng Viên nó đã lỗi thời vì Hoa Kỳ đã thay đổi chính sách, thoả hiệp với Cộng Sản quốc tế. Theo Tướng Viên giới lãnh đạo VNCH đúng ra phải uyển chuyển thay đổi kế hoạch quốc gia có nghĩa là nên thương thuyết với BV sau khi ký hiệp định Paris. Ông Thiệu đã sai lầm về chính trị mà cả về quân sự, như chúng ta đều đã biết kế hoạch tái phối trí lực lượng của ông để rút bỏ Quân khu I và II đã đưa tới sụp đổ tan tành.

     Nếu như ông Cao Văn Viên cho rằng sau Hiệp định Paris 27-1-1973, VNCH cần phải uyển chuyển thay đổi kế hoạch quốc gia thì con đường thương thuyết, hoà giải của ông Dương Văn Minh được coi như phù hợp với thực trạng và tình thế nhưng chua chát thay ông ta lại không đủ khả năng để làm chuyện ấy. Hẳn ai cũng đều đã biết sau ngày 1-11-1963, Dương Văn Minh đã nắm quyền Quốc trưởng, cờ đến tay mà còn chẳng phất được thì thử hỏi với tình hình bấp bênh như “trứng đứng đầu gậy” tháng 4-1975, ông có thể làm gì hơn được?

      Nhiều người cho rằng Tổng thống Nixon và phụ tá Kissinger ép buộc VNCH ký kết hiệp định Paris đưa tới sụp đổ miền Nam, nay nhiều bí mật đã được tiết lộ, việc cắt giảm quân viện tới xương tuỷ mới là nguyên nhân chính. Bản tin Việt Ngữ đài VOA ngày 2-7-2007 nói cựu bộ trưởng quốc phòng Laird thời Nixon lên tiếng cho biết VNCH thua trận vì bị Mỹ cắt viện trợ.

     CSVN đã tiết lộ trong một buổi hội thảo qui mô tại Sài Gòn ngày 14-4 và 15-4-2006 (theo BBC.com) trong giai đoạn 1961-1964 CS quốc tế viện trợ cho miền Bắc 70,295 tấn hàng quân sự, mười năm sau giai đoạn 1973-11975 viện trợ ấy đã tăng lên 724,512 tấn , gấp hơn 10 lần .

    Trong khi ấy tiền quân viện của Mỹ cho miền Nam như đã nói ở trên giảm dần

      -Tài khoá 1973 : hai tỷ mốt (2,1 tỷ)

      -Tài khoá 1974 : một tỷ tư (1,4 tỷ)

      -Tài khoá 1975 : bẩy trăm triệu (0,7 tỷ).

      Theo GS Nguyễn Tiến Hưng với ngân khoản 700 triệu viện trợ, trong khi đó thì cuộc khủng hoảng dầu lửa đã làm giá săng nhớt tăng gấp bốn . Bởi vậy mãi lực thật của ngân khoản ấy chỉ là trên dưới 350 triệu.

       Như vậy khoản quân viện 350 triệu hồi 1975 còn thua kém quân viện 1963 (384 triệu) chút đỉnh. So sánh viện trợ quân sự cho miền Bắc và miền Nam chúng ta thấy đã có sự xếp đặt của các siêu cường.

      Nay người ta nhìn nhận phản chiến hay cuộc chiến tại đất nhà War at Home là nguyên do chính đưa tới cắt giảm viện trợ bỏ Ðông Dương vì nó đã thúc đẩy Quốc hội trói tay chính phủ, mọi người đều biết lập pháp Hoa Kỳ thời nào cũng phải dựa vào lá phiếu của người dân. Người Mỹ chỉ trích Nixon đã kéo dài chiến tranh thêm 4 năm nữa (1969-1972) làm thiệt mạng thêm hơn 20,000 quân Mỹ, thiệt hại vô ích. Nhiều người Việt quốc gia đổ trách nhiệm cho Nixon, Kissinger làm sụp đổ miền Nam. Sự thực không phải như vậy, mặc dù lên làm Tổng thống đầu năm 1969 Nixon hứa chấm dứt chiến tranh trong danh dự, đưa quân về nước, ông vẫn cố níu kéo miền Nam nhưng cuộc chiến War at Home lên quá cao khiến ông đành bó tay chịu thua không làm gì được. Ðoàn Thêm ghi nhận trong “1969, Việc Từng Ngày” như sau

     “Ngày 15-11-1969 chừng 300 ngàn người biểu tình phản chiến tại Hoa Thịnh Ðốn và nhiều thành phố khác”

            Trang 350

      Nixon không có cơ hội may như Jonson đã được quốc hội ủng hộ, ông thừa hưởng một gia sản đổ nát do Johnson-McNamara để lại.

      Mặc dù được Quốc hội ủng hộ trong mấy năm đầu của nhiệm kỳ, Johnson đã thất bại trong kế hoạch đánh cầm chừng hay chiến tranh hạn chế. Trong ba năm 1965, 66, 67 BV đã bị thiệt hại khoảng gần 350 ngàn người nhưng họ vẫn tiếp tục gia tăng nhân lực từ 180 ngàn năm 1964 lên tới 261 ngàn trong năm 1967, họ thay thế được số thiệt hại mà còn gia tăng thêm quân số.

      Kế hoạch “đánh cho nó sợ” để hăm doạ BV phải vào bàn hội nghị của McNamara-Johnson không có hiệu quả.

      “Ngày 6-4-1969 Tướng Wesmoreland, cựu Tổng Tư lênh quân đội Mỹ tại VN và Ðô đốc Sharp cựu tổng tư lệnh Mỹ tại Thái bình dương công bố bản phúc trình 347 trang về chiến cuộc tại Việt Nam trong 4 năm chỉ huy. Theo các Tướng nếu Hoa Kỳ không đưa quân sang VN năm 1965 thì VNCH chắc đã mất trong thời gian 6 tháng; ngoài ra các Tướng nhấn mạnh sự bó tay của Bộ tư lệnh Mỹ trước chính sách chiến tranh hạn chế của TT Johnson và sự cấm đánh qua Mên và Lào” .

       Ðoàn Thêm, 1969, Việc Từng Ngày, trang 117-118

      Hậu quả là chiến tranh đã kéo dài khiến cho tổn thất nhân mạng của Mỹ gia tăng: năm 1965 có 1,369 người chết lên 5,008 người năm 1966, và 9,378 người năm 1967, 14,595 người năm 1968. Lính chết nhiều đã đưa phong trào phản chiến lên cao, nhất là vào năm 1968 sau trận tết Mậu Thân, chính Johnson đã nhìn nhận

        “Lo ngại lớn nhất của tôi không phải là vấn đề Việt Nam … mà chính là sự chia rẽ bi quan tại Mỹ.. Tôi dùng bài diễn văn sắp đến như một cơ hội để lấy lại sự cân bằng cũng như mở rộng một sự hiểu biết tốt đẹp hơn. Tôi biết rõ ràng rằng sự sụp đổ của mặt trận tại đất nhà là những gì Hà Nội mong chờ”

         Nguyễn Ðức Phương – Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, trang 34.

      Kế hoạch chiến tranh giới hạn của Bộ trưởng Quốc phòng McNamara cũng đã bị chỉ trích như dưới đây:

     “Ngày 27-4-1969 Ðô đốc Grant Sharp, cựu Tổng tư lệnh Mỹ tại Thái Bình Dương, đăng báo công kích cựu bộ trưởng Quốc Phòng MvNamara: ông này đã ngăn cản không cho oanh tạc để phá hủy các cơ sở và tiềm lực kinh tế Bắc Việt mà chỉ cho ngăn chận sự xâm nhập , nên các cuộc oanh tạc hoá ra vô hiệu.”

          1969, Việc Từng Ngày, trang 141.

      Johnson đã sai lầm trong kế hoạch chiến tranh giới hạn và sai lầm trầm trọng hơn nữa khi giao kế hoạch quân sự to lớn vào tay McNamara, một người dân sự không được các Tướng lãnh kính nể, đưa tới thất bại hoàn toàn. Johnson đã bỏ lỡ nhiều cơ hội chiến thắng, có thể nói Johnson, McNamara là những người phải chịu trách nhiệm nặng nề nhất cho sự thảm bại tại Ðông Dương. Kế hoạch cù cưa của McNamara-Johnson đã khiến cho tổn thất nhân mạng người Mỹ lên cao và đẩy mạnh phong trào phản chiến. Cuộc chiến tranh tại đất nhà War at Home lên cao dữ dội sau trận Mậu thân đã dẫn tới sụp đổ Ðông Dương.

      Nhiều người tin tưởng rằng nếu Nixon còn làm Tổng thống 1975 thì miền Nam chưa chắc đã mất, sự thực dù ông có còn tại chức thì cũng bị Quốc hội trói tay vì những đạo luật mới như War Powers Act (10-1973) hạn chế quyền Tổng thống về chiến tranh. Khi BV xua quân chiếm miền Nam, ông cũng sẽ chỉ phản đối xuông cho có hình thức chứ cũng chẳng làm gì hơn được.

     Cựu Ðại Tá Phạm Bá Hoa mói:

     Trong lúc trên dưới 200,000 quân của Quân đoàn IV, chưa một trận đánh quan trọng nào, cũng chưa một vị Tư lệnh nào bỏ chạy, đã phải buông súng đầu hàng theo lệnh của Tổng thống Dương Văn Minh !

             Giờ Thứ 25.

      Ông Phạm Bá Hoa tỏ vẻ tiếc vì quân khu IV vẫn còn nguyên vẹn 3 sư đoàn chính qui (SÐ7, SÐ9, SÐ21) và gần 200 ngàn Ðịa phương quân, Nghĩa quân… mà phải đầu hàng. Mặc dù có thể rút về Vùng 4 cầm cự thêm được một, hai tuần lễ, nhưng ông Dương Văn Minh đã quá chán nản tuyệt vọng tuyên bố đầu hàng để tránh đổ máu vô ích, ông không muốn có người chết thêm. Cũng có thể ông làm theo ý muốn của người Mỹ, họ muốn Miền Nam thua nhanh gọn để ra đi êm thắm không còn ưu tư khắc khoải.

      Trả lời một cuộc phỏng vấn ở Hải Ngoại, Dương Văn Minh nói “Tôi không cứu được nước nhưng tôi phải cưú dân”.

     Có người kết án ông đầu hàng giặc, có người khen ông đã cứu được Sài Gòn khỏi cơn binh đao, khói lửa…nhưng dù ông Dương Văn Minh hay một nhà lãnh đạo nào khác cũng chỉ làm được đến thế thôi. Mặc dù không phải chính trị gia lỗi lạc, nhưng ông cũng đã có lòng ở lại với đất nước đang trong cơn nguy khốn để hy vọng tìm được một lối thoát cầu may.

      Sau ngày miền Nam sụp đổ, được CS phục hồi quyền công dân, ông Dương Văn Minh đã phát biểu nhiều câu có lợi cho quân chiếm đóng, ông đã tự hại ông, đã tự chôn vùi danh dự của mình. Khi sơn hà nguy biến ông đã có can đảm đứng ra gánh vác việc quốc gia đại sự, sao lại không giữ khí phách đến cùng để lưu danh muôn thuở.

     Ngươi ta thường nói cháy nhà ra mặt chuột, nước rặt mới biết cá thối, vào Giờ thứ 25 của miền Nam, trong khi rất nhiều vị Tướng Lãnh từ một sao cho tới bốn sao đã lên kế hoạch “Tẩu vi thượng sách”, vẫn có những vị anh hùng khác với lòng quả cảm và tinh thần trách nhiệm cao đã chiến đấu anh dũng, gan dạ cho đến giờ phút cuối cùng của cuộc chiến như các Tướng Trần Quang Khôi, Lê Minh Ðảo, Lý Tòng Bá, Lê Nguyên Vĩ… Mặc dù không thấy một tia ánh sáng cuối đường hầm, họ vẫn can đảm phục vụ đất nước cho tới giờ phút chót, nhưng tiếc thay số người trọng danh dự như thế xem ra quá ít, mặc dù quá ít nhưng nó cũng đã giữ được danh dự cho Quân đội miền Nam.

      Sự thực dù có nhiều khuyết điểm, hành pháp Hoa Kỳ, các nhà lãnh đạo miền Nam Việt Nam, các vị Tướng lãnh… từ 1955 cho tới 1975 đã làm hết sức mình để giữ vững miền Nam nhưng phong trào phản chiến tại Mỹ đã làm đảo lộn tất cả mọi kế hoạch chính trị quân sự Việt – Mỹ đưa tới sụp đổ tan tành.

     Cuộc chiến tại đất nhà War at Home là điều mà chính người Mỹ cũng không thể ngờ nó có thể tai hại khủng khiếp đến thế.

                    Trọng Ðạt

           Tài Liệu tham khảo.

Nguyễn Ðức Phương: Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, 1963-1975, Làng Văn 2001.

Nguyễn Ðức Phương: Những Trận Ðánh Lịch Sử Trong Chiến Tranh Việt Nam, 1963-1975, Ðại Nam.

Cao Văn Viên: Những Ngày Cuối Của Việt Nam Cộng Hoà, Vietnambibliography, 2003.

Ðoàn Thêm: 1969 Việc Từng Ngày, Xuân Thu.

Nguyễn Tiến Hưng: Khi Ðồng Minh Tháo Chạy, Hứa Chấn Minh, 2005.

Trần Quang Khôi: Chiến Ðấu Ðến Cùng: Vai Trò Của Lữ Ðoàn 3 Kỵ Binh và Lực Lượng Xung Kích QÐ III Trong Năm Ngày Cuối Của Cuộc Chiến Việt Nam. Nguyệt San Chiến Sĩ Cộng Hoà, số Ra Mắt, tháng 7-2009.

Phạm Bá Hoa: Giờ Thứ 25, Người Việt Dallas, số ngày 21-8-2009.

Trần Văn Ðôn: Việt Nam Cộng Hoà, 10 Ngày Cuối, Trích trong Hồi ký Việt nam Nhân Chúng.

Lâm Lễ Trinh: Tổng Thống Hai Ngày Dương Văn Minh, Người Việt Dallas 30-6-2005.

Trần Bình Nam: CIA Và Các Ông Tướng, Phần 6, Chương 9: Tìm Lối Ðầu Hàng Và Di Tản, www.Danchimviet.com.

Ðài VOA Ngày 2-7-2007: Cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ (Laird) :Việt Nam Cộng Hoà Thua Trận Vì Bị Mỹ Cằt Viện Trơ. www.Motgoctroi.com

Vương Hồng Anh: Những Ngày Cuối CủaViệt Nam Cộng Hoà, www.Motgoctroi.com

Phạm Huấn: Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước 1975, Cali 1988.

Phạm Huấn: Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975, Cali 1987.

Hoàng Lạc, Hà Mai Việt: Việt Nam 1954-1975, Những Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới Texas 1990.

Trần Ðông Phong: Việt Nam Cộng Hoà, 10 Ngày Cuối Cùng, Nam Việt 2006

Ðinh Văn Thiên: Một Số Trận Ðánh Trước Cửa Ngõ Sài Gòn, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội 2005.

Văn Tiến Dũng: Ðại thắng Mùa Xuân, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, HàNội 2005.

Dương Ðình Lập: Cuộc Tổng Tiến Công Và Nổi dậy Mùa Xuân 1975, Nhà xuất bản Tổng Hợp T.P.H.C.M 2005.

Lam Quang Thi: Autopsy The Death Of South Viet Nam, 1986, Sphinx Publishing.

The Word Almanac Of The Viet Nam War: John S. Bowman – General Editor, A Bison-book 1958.

Stanley Karnow: Viet Nam, A History, A Penguin Books 1991.

Marilyn B. Yuong, John J. Fitzgerald, A. Tom Grunfeld: The Viet Nam War, A history in documents, Oxford University Press 2002.

Lewis Sorley: Lịch Sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, Trần Ðỗ Cung dịch, Người Việt Dallas số 26-4-2006.

Lữ Lan: Cuộc Chiến 30 Năm Nhìn Lại Từ Ðầu, Sài Gòn Nhỏ Dallas 28-4-2006.

Lê Quang Lưỡng: Thiên Thần Mũ Ðỏ Ai Còn Ai Mất, Người Việt Dallas 7-10-2005.

Người Mỹ Và Chiến Tranh Việt Nam, Người Việt Dallas 21-6-2006.

Hồ Ðinh: Cơn Phẫn Nộ Cuối Cùng Của Một Quân Ðội Bị Phản Bội, Người Việt Dallas 23-12-2005.

Hồ Ðinh: Sư Ðoàn 18 Bộ Binh Và Những Ngày Tử Chiến Tại Xuân Lộc, Sài Gòn Nhỏ Dallas cuối tháng 4-2005.

Hải Triều, Trung Nghĩa: Bán Tiểu Ðội Biệt Cách Dù & Trận Ðánh Chớp Nhoáng Sau Lệnh Ðầu Hàng 30-4-75, Sài Gòn Nhỏ, cuối tháng 4-2006.

Lê Ngọc Danh: Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, (bút ký của sĩ quan tuỳ viên Tướng Nguyễn Khoa Nam), Bút Việt 28-4-2006

Quảng cáo/Rao vặt

10 Comments on Ông Dương Văn Minh Vào Giờ Thứ 25

  1. LICH SU

    VNCH 1963-1975

    Thanh phan hao-danh:big-Minh,Khanh…

    Bat tai cam QUYEN lam thu-lanh

    Quoc-gia hon-loan dan bat an

    Ham-danh-loi dau da tranh gianh

    Nhom Caravelle ,TLVG,Tri-Quang…mang-xa

    Vu-oan cao-va TTDiem: bat-chinh

    Co-hoi csVN xam lang Nuoc VNCH

    Mat Nuoc nha tan:dieu kho tranh.

    Dan-Tri.

    Like

  2. LICH SU

    VNCH 1963-1975

    Thanh pham hao-danh:big-Minh,Khanh…

    Bat tai cam QUYEN lam thu-lanh

    Quoc-gia hon-loan dan bat an

    Ham-danh-loi dau da tranh-gianh

    Nhom Caravelle ,TLVD…luu manh chinh-tri

    Boi nho Chinh-phu TTDiem:bat chinh

    Lam loi CSVn xam lang banh-truong

    Mat Nuoc nha tan:dieu kho tranh.

    Dan-Tri.

    Like

  3. NHUNG KE VU OAN

    VU KHONG DE CUOP

    CHINH QUYEN I VNCH:

    VO LIEM SI VO NHAN TINH

    Mot Nuoc van minh tien bo

    Khong duoc phan biet ton giao vung mien

    Deu co co hoi va QUYEN

    Bau cu ung cu la QUYEN cong dan

    Tong-thong la cua toan dan

    Khong duoc phan biet ca nhan ton giao

    Nhung ke bat luong ma giao

    Chuyen di vu vao: khong co nhan tinh.

    Dan-Tri.

    Like

  4. HDQNCM TOI PHAN QUOC

    MINH,KHIEM,KY,KHANH…

    VO DUNG BAT TAI

    Big-Minh vo dung bat tai

    Ham danh loi giet Hien-tai Diem,Nhu

    Tranh gianh len chuc lanh-tu

    Tro thanh Quoc-truong sau-khi giet TTDiem

    HDQNCM:lu bat tai vo-liem

    Ham danh loi cuop chinh QUYEN I VNCH

    Tri-thuc gia nhan gia nghia

    An com Quoc-gia Tho ma cong san

    Pha-hoai Mien Nam nhan danh

    “Hoa-hop-Hoa-giai”ngu-Xuan chinh-tri

    U-me tin tuong cong-phi

    Chi la dua dai chang ra quai gi.

    Dan-Tri.

    Like

  5. LICH SU

    VNCH 1963-1975

    HDQNCM TOI PHAN QUOC

    TOI LAT DO I VNCH

    TOI LAM TAY SAI MAMON C.I.A

    TOI SAT HAI TT-DIEM CV-NHU

    Big-Minh la ten bat tai

    Ham danh loi giet Hien-tai Diem,Nhu

    Tro thanh Quoc-truong lanh-tu

    An choi gai-gu vu-truong tu do

    Tuong ta nhay-dieu tang-go

    Chien-luoc chong cong bo-ngo khong lo

    Ap-chien-luoc thi dep bo!!!

    De cho cong-san tu do tung hoanh

    “Tri-Quang khung-bo tinh than

    Chia re ton-giao lam loan Sai-gon”

    Luc-luong thu 3 du con

    Nam vung khung-bo Sai-gon hon-loan

    Gay xao-tron dan bat an

    1963-1964 dao chinh tranh gianh QUYEN hanh

    Bat-tai tri-Quoc an-dan

    Lam loi cong-phi lan-dat gianh dan

    Hau-qua: mat Nuoc nha tan

    Khiem,Minh,Don,Dinh,Ky,Xuan…toi do.

    Dan-Tri.

    Like

  6. NHAN SINH QUAN

    “Quan-nguyen”:HcM nguyen-quan goc He

    DcsVn:tay sai Quoc-te Mac Mao

    Xam lang Nuoc VNCH tao

    Ho,Duan giet!…giet!…dong bao Bac Nam

    CNCS duoi uoi vo tam to tuong

    Hai nuoc hai dan:phuong cong no

    Sang,Khai,Kiet,Triet…ma-co

    U-minh nhuom do Mien Nam:toi do.

    Dan-tri.

    Like

  7. Hiến pháp Việt Nam cộng hoà qui định Tổng thống là do dân bầu, không có qui định người này nhường chức TT cho người kia, cũng không qui định Quốc hội tán thành việc chuyển nhượng này. Cho nên không thể và không nên gọi hắn là TT. Hơn nữa tội sát hại Tổng thống Việt Nam cộng hoà Ngô đình Diêm chưa được xét xử. Hiến pháp không qui định đảo chánh, cho nên tội của thằng Dương văn Minh không thể bỏ qua

    Like

  8. NHAN SINH QUAN

    “Quan-Nguyen”:HcM nguyen quan goc He

    DcsVn:tay sai Quoc-te Mac Mao

    Xam lang Nuoc VNCH tao

    Ho,Duan giet!…giet!…dong-bao Bac Nam

    CNCS duoi-uoi vo tam to-tuong

    Tra,Sang,Khai,Kiet…ma co

    U-minh nhuom-do Mien Nam: toi do.

    Dan-Tri.

    Like

  9. LICH SU

    VNCH 1963-1975

    HDQNCM TOI PHAN QUOC

    TOI DAO CHINH I VNCH

    TOI LAM TAY SAI MAMON C.I.A

    TOI SAT HAI TT-DIEM CV-NHU

    Big-Minh,la ten bat tai

    Ham danh loi giet Hien-tai Diem, Nhu

    Tro thanh Quoc-Truong lanh tu

    An choi gai-gu vu-truong tu do

    Tuong ta nhay-dieu tang-go

    Chien luoc chong cong bo-ngo khong lo

    Ap-chien-luoc thi dep bo!!!

    De cho cong-san tu-do tung hoanh

    Tri-Quang khung-bo tinh-than

    Luc-luong thu 3 du-con

    Nam-vung khung-bo Sai-gon hon-loan

    Gay xao-tron dan bat an

    1963-1964 dao chinh tranh gianh QUYEN hanh

    Bat-tai tri-Quoc an dan

    Lam loi cong phi lan dat gianh dan

    Hau-qua: mat Nuoc nha tan

    Khiem,Minh,Don,Dinh,Ky,Xuan…toi do.

    Dan-Tri.

    Like

  10. LICH SU

    VNCH 1963-1975

    3 PHI CONG PHAN QUOC

    Luc luong thu 3 vit gian

    Phi cong:Cu,Quoc luu manh gian ta

    Phi cong ten:Trung mang xa

    An com Quoc gia Tho ma cong san.
    .
    Dan-Tri.

    Like

Góp ý, Thảo luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: