Bài mới trên BÁO TỔ QUỐC

TRẬN ĐIỆN BIÊN PHỦ, (1) TUYẾN VẬN CHUYỂN TIẾP LIỆU CỦA BẮC KINH

*( Trích sách “Bối Cảnh Lịch Sử chính trị VIệt Nam” của Bùi Anh Trinh, phát hành năm 2008 ).

Tại sao Mao Trạch Đông lại quyết định đánh Điện Biên Phủ?

Mao Trạch Đông quyết định đánh lớn tại biên giới Việt Lào vào năm 1954 vì lúc đó ông ta đã giải quyết xong chiến trường Đại Hàn.  Sức mạnh quân sự của Trung Cọng với chiến thuật biển người tại Đại Hàn đã làm cho thế giới kinh hoàng cho nên quốc tế hè nhau bao vây kinh tế Trung Cọng để ngăn chặn tính hiếu chiến của Mao Trạch Đông.  Điều này khiến cho nền kinh tế của Bắc Kinh khốn đốn, trước mắt là nhân dân TC bị đói ăn trầm trọng.

Lại thêm năm 1953 Stalin chết, người kế vị ông ta là Krushcheve báo tin Liên Xô không còn khả năng yểm trợ kinh tế cho Bắc Kinh.  Lâm vào tình thế đó, Mao Trạch Đông đặt kế hoạch tấn công uy hiếp Đông Nam Á để làm áp lực buộc Pháp, Anh và Hoa Kỳ phải giải tỏa lệnh cấm vận, nếu không thì ông ta buộc phải chiếm Đông Nam Á để làm thị trường trao đổi hàng hóa.

Mao ra lệnh cho quân đội TC chuyển cho Việt Minh số vũ khí và đạn dược của Hoa Kỳ mà trước đây đã tịch thu được của Quân đội Tưởng Giới Thạch.  Số vũ khí này quân đội Trung Cọng sẽ không dùng tới nữa vì họ đã được trang bị vũ khí tối tân hơn của Liên Xô.  Chiến trường Việt Nam sẽ là nơi tiêu thụ cho hết số vũ khí thặng dư đó.

Như đã thỏa thuận với Stalin vào tháng 1 năm 1950 về việc hỗ trợ cho lực lượng Cọng sản Đông Dương, Mao Trạch Đông muốn giúp CSVN cũng như Pathet Lào và  Kh’Mer Đỏ có một  mảnh đất làm căn cứ địa để từ đó có thể phát triển du kích chiến, đánh khuấy rối nhằm tiêu hao ngân sách của Chính phủ Pháp, buộc Pháp phải đổ tiền ra duy trì đội quân viễn chinh.

Do đó Mao chủ trương đánh thông Quảng Tây của Trung Cọng với Cao Bằng.  Rồi sau đó sẽ đánh thông từ Cao Bằng đến Tuyên Quang là căn cứ địa của Hồ Chí Minh.  Rồi từ Tuyên Quang băng qua miền Trung Du để tới Điện Biên Phủ, thuộc tỉnh Sơn La, giáp giới với Lào.  Và sau khi chiếm được Lào thì quân Cọng sản của 3 nước Đông Dương sẽ tiến xuống Căm Bốt rồi thông ra Vịnh Thái Lan.

Năm 1953, đầu năm, một trung đoàn pháo binh gồm 36 khẩu súng 105 ly được đưa từ Trung Cọng về Việt Nam :  “Trong quý 1 năm 1953, trung đoàn lựu pháo 105 ly do bạn trang bị và huấn luyện đã về nước. Việc vận chuyển trọng pháo từ Vân Nam về Việt Bắc phải dùng bè đi theo sông Hồng qua nhiều ghềnh thác.  Trung đoàn cao xạ 37 ly đang được gấp rút chuẩn bị về nhân sự” ( Võ Nguyên Giáp, Điện Biên Phủ, điểm hẹn lịch sử, bản in lần 2, trang 12 ).

Đây là súng đại bác của Hoa Kỳ mà Mao Trạch Đông tịch thu được của quân đội Tưởng Giới Thạch.  Đại bác 105 ly là vũ khí lợi hại nhất của quân đội Hoa Kỳ trong Thế chiến thứ 2. Và mãi cho tới năm 1975 thì loại súng này vẫn là vũ khí lợi hại nhất của Quân lực Việt Nam Cọng Hòa. Về phía quân đội Pháp thì đại bác 105 ly của Hoa Kỳ cũng là vũ khí lợi hại nhất của Pháo binh Pháp thời bấy giờ. Vì vậy suốt cuộc chiến Điện Biên Phủ chỉ là trận đọ pháo giữa 36 khẩu 105 ly của Võ Nguyên Giáp và 24 khẩu 105 ly của De Castries.

Tuyến vận chuyển lương thực và đạn dược của quân CSVN

Tuyến vận chuyển lương thực và đạn dược từ Trung Quốc đến Điện Biên Phủ phải qua một cung đường dài 600 cây số. Vật dụng tiếp liệu được chuyển qua biên giới tại Cao Bằng theo Quốc lộ số 3 đến Bắc Cạn, và đa số là tại Ải Nam Quan thuộc tỉnh Lạng Sơn rồi sau đó cũng được chuyển qua Bắc Sơn xuống Bắc Cạn.  Tại Bắc Cạn có một trung tâm tiếp vận rất lớn nằm trong rừng thuộc thị xã Chợ Chu.  Hầu hết hàng tiếp liệu được tập trung tại kho Chợ Chu trước khi chuyển đi các mặt trận.

Một số không qua Chợ Chu mà đi thẳng theo Quốc lộ 3 xuống Thái Nguyên, tại đây rẽ theo Tỉnh lộ 13 đi Phú Thọ rồi vượt ngang sông Hồng tại Yên Báy. Từ Yên Báy đi theo đường 13 gặp sông Đà và vượt sông Đà tại Tạ Khoa.  Từ Tạ Khoa đâm ra  Tỉnh lộ 41 ở ngã ba Cò Nòi rồi theo đường 41 đi qua Sơn La để tới Tuần Giáo là điểm tiếp vận cho mặt trận Điện Biên Phủ. Tuần Giáo cách ĐBP 80 cây số.

Như vậy tuyến vận chuyển của Mao Trạch Đông gần như là một đường nằm ngang từ phía Đông tại biên giới Trung Hoa ở Lạng Sơn chạy theo hướng Tây đến biên giới Lào tại Điện Biên Phủ.

Tình hình tuyến đường vận chuyển được Tướng CSVN Lê Trọng Tấn kể lại :  “Đường đi chiến dịch năm nay đã mở rộng.  Trên đường qua Thượng Bằng La, đèo Lũng Lô mới đầu năm, khi chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ từ Sốp Hào về còn âm u rậm rạp nay đã mở rộng, rải đá phẳng lỳ.  Trên đèo Phiêng Ban nườm nượp dân công gồng gánh, xe thồ, cả nước lên đường trong trạng thái phấn chấn của cuộc Cách mạng Cải cách ruộng đất.  Qua sông Đà năm nay, chúng tôi được đi cầu phao do Công binh bắc từ trước. 

Ra đến đường 41 thì một cảnh tượng chưa từng có đập vào mắt:  Hàng đoàn ô tô kéo pháo, chiếc nọ kéo chiếc kia lăn bánh trên con đường rộng thênh thang giữa hai hàng dân công và bộ đội cùng hành quân theo một hướng…Và đêm nay, dưới ánh trăng rừng vằng vặc của mùa đông Tây Bắc, con đường sống động như một dòng sông.  Người và xe cuồn cuộn nối nhau lên Điện Biên”.

CSVN chuẩn bị chiến trường

Năm 1953, ngày 12-8, Võ Nguyên Giáp nhận được một tin bất ngờ:  “Ngày 12 tháng 8 năm 1953, tôi nhận được báo cáo quân địch đã rút khỏi Na Sản.  Một tin hoàn toàn bất ngờ” (Hồi ký Võ Nguyên Giáp).  Như vậy thì quân Pháp đã bỏ trống vùng Sơn La, chỉ giữ 2.000 quân tại Lai Châu để trấn giữ cửa ngõ từ Trung Cọng sang.  Quân CSVN có thể làm chủ tình hình từ Mộc Châu đến Sơn La.  Đoàn quân xa chở đồ tiếp vận cho quân CSVN có thể chạy thẳng một mạch từ Cao Bằng hay Lạng Sơn đến tận Điện Biên Phủ là nơi giáp giới với biên giới Lào.

Năm 1953, tháng 9, tình báo Trung Cọng chuyển cho Võ Nguyên Giáp một bản kế hoạch của Tướng Navarre.  Hồi ký của Võ Nguyên Giáp:  “Hạ tuần tháng 9 năm 1953, các đồng chí Trung Quốc chuyển cho ta một bản kế hoạch Nava với bản đồ do cơ quan tình báo của bạn thu thập được” (Trang 17).

Đầu tháng 10-1953, theo hồi ký của Tướng Giáp :  “Một buổi sáng đầu tháng 10 năm 1953, tôi từ cơ quan Bộ Tổng tư lệnh đi dự họp bàn về kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953 – 1954 do Bộ chính trị triệu tập.  Mùa thu năm nay đến với những lo âu và hy vọng.  Không khí có phần căng thẳng…Ta vẫn chưa xác định trân đánh lớn trong mùa khô sẽ xảy ra ở đâu” (trang 23).

Đoạn hồi ký này là bằng chứng xác nhận Hồ Chí Minh, Trường Chinh và Võ Nguyên Giáp không hề được chủ động trong các kế hoạch chiến đấu chống Pháp.  Mặc dầu trong tháng 9 Bắc Kinh đã gởi cho Tướng Giáp bản kế hoạch của Navarre nhưng tới tháng 10 các ông vẫn chờ đợi lệnh của Bắc Kinh với… “lo âu”, “hy vọng” và “căng thẳng” vì…chưa biết mùa khô năm nay sẽ đánh ở đâu.

Ngày 10-10, Bắc Kinh gửi công điện cho Hồ Chí Minh báo tin Tướng TC Vi Quốc Thanh sẽ trở lại Việt Nam để tiếp tục cương vị cố vấn quân sự  ( Hồ sơ văn khố TC ).  Ngày 27-10 Vi Quốc Thanh đến Việt Nam, mang theo một bản sao kế hoạch của Navarre do tình báo TC thu thập được, bản kế hoạch này đã được chuyển trước cho Võ Nguyên Giáp trong tháng 9.

Ngày 15-10, Bộ chỉ huy đại đoàn 316 và Trung đoàn 174 đang nghỉ dưỡng quân tại Thanh Hóa nhận được lệnh trở về Lai Châu để cùng hoạt động với 2 trung đoàn còn lại của 316 là Trung Đoàn 98 và Trung đoàn 176.

Ngày 1-11, Võ Nguyên Giáp và cố vấn Vi Quốc Thanh tới Tỉn Keo, Tuyên Quang để gặp Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng và Trường Chinh để báo cáo kế hoạch quân sự vào mùa khô sắp tới:  “Đồng chí Vi Quốc Thanh về nước mới sang, cùng tôi lên Khuổi Tác gặp Bác… Tôi và đồng chí Vi Quốc Thanh nhất trí mở những cuộc tiến công nhắm vào những chiến trường hiểm yếu mà địch yếu hoặc tương đối yếu…” (trang 19).

 Vi Quốc Thanh từ bên Tàu sang đã mang theo kế hoạch đánh biên giới Lào của Mao Trạch Đông. Võ Nguyên Giáp chỉ có việc nghe và đồng ý. Tuy nhiên kế hoạch này không phải chỉ có sau khi Vi Quốc Thanh trở lại Việt Nam mà đã có từ năm trước, khi mà La Quý Ba thay thế Vi Quốc Thanh quyết định mở mặt trận Tây Bắc vào mùa khô năm 1953.

Hồi ký của Tướng CSVN Lê Trọng Tấn cho thấy con đường tiếp vận cho mặt trận Tây Bắc đã được mở rộng và trải đá phẳng lì chứng tỏ kế hoạch đã được âm thầm tiến hành từ lâu. Việc mở xa lộ để chở quân dụng đến biên giới Lào không phải là chuyện một ngày một bữa.  Mà là chuyện lâu dài trong nhiều năm.

Có lẽ Võ Nguyên Giáp không được biết về chuyện mở xa lộ cho nên ông vẫn đặt kế hoạch tập trung đánh vào Đồng Bằng Bắc Việt trong mùa khô năm 1954.  Trong khi đó thì các sĩ quan tình báo của Pháp nhìn vào hình chụp của phi cơ quan sát thì biết hướng tiến quân của CSVN trong mùa khô năm 1954 là biên giới Tây Bắc Bắc Việt. Vì vậy mà Tướng Navarre quyết định mở căn cứ quân sự tại Điện Biên Phủ.

Năm 1953, ngày 19-11, Võ Nguyên Giáp triệu tập các chỉ huy trưởng đơn vị tham dự hội nghị phổ biến kế Hoạch Đông Xuân tại thị trấn Đồng Đậu tỉnh Thái Nguyên.  Hội nghị kéo dài 4 ngày, trong khi hội nghị đang diễn ra thì được tin Pháp đổ quân xuống Điện Biên Phủ. Vi Quốc Thanh và Võ Nguyên Giáp chưa biết ý định của Pháp nhưng vẫn cho các Đại đoàn tiến về mặt trận Tây Bắc như đã dự trù :

Đại đoàn 308 cùng với 3 Trung đoàn trực thuộc là 36, 88 và 102 đang dưỡng quân ở vùng Yên Báy, tiến theo hướng Nghĩa Lộ rồi vượt sông Đà tại Tạ Khoa, theo Tỉnh lộ 41 đến Sơn La rồi Điện Biên Phủ.

Đại đoàn Pháo binh 351 cùng với 3 trung đoàn trực thuộc là 41, 367 và 675 từ Thái Nguyên di chuyển đến Phú Thọ , rồi theo Tỉnh lộ 13 đến bờ sông Đà, vượt sông bằng cầu nổi tại ngả ba Tạ Khoa, rồi theo Tỉnh lộ 41 qua Sơn La đến Tuần Giáo rồi đi Điện Biên Phủ bằng tỉnh lộ 41B, cách Điện Biên Phủ 15 cây số thì bộ đội kéo súng vào Điện Biên Phủ bằng tay vì sợ quân đồn trú trong Điện Biên Phủ nghe được tiếng xe.

Đại đoàn 312 cùng với 3 trung đoàn trực thuộc là 141, 165 và 209 đang dưỡng quân tại Phú Thọ, di chuyển theo lộ trình vượt sông Hồng tại ba địa điểm khác nhau rồi tập trung tại Nghĩa Lộ, qua Thượng Bằng La, đèo Lũng Lô, vượt sông Đà bằng cầu phao qua Tạ Khoa, theo Tỉnh lộ 41 đi Sơn La rồi đến Điện Biên Phủ.

Bộ chỉ huy Đại đoàn 316 cùng với 1 trung đoàn trưc thuộc là 174 đang dưỡng quân ở Thanh Hóa trở về Tuần Giáo để gặp 2 trung đoàn trực thuộc là 98 và 176 đang hoạt động tại đây.

Đại đoàn 304 ở Thanh Hóa cho một trung đoàn trực thuộc là Trung đoàn 66 sang hoạt động trên đất Lào, Bộ chỉ huy Đại đoàn và 2 trung đoàn còn lại là 57 và 345 tiến lên mặt trận Tây Bắc, đến Tạ Khoa thì đi ngược hướng tiến của Đại Đoàn 308 để đến Phú Thọ thay thế cho các Đại đoàn 308 và 312 bảo vệ Tổng bộ Việt Minh trong vùng chiến khu Việt Bắc.

*( Quân số mỗi đại đoàn khoảng 8.000 người, tổng cộng là 42.000 người )

Sơ đồ tuyến đường vận chuyển của Mao Trạch Đông

Sơ đồ tuyến đường vận chuyển của Mao Trạch Đông

Quảng cáo/Rao vặt

1 Comment on TRẬN ĐIỆN BIÊN PHỦ, (1) TUYẾN VẬN CHUYỂN TIẾP LIỆU CỦA BẮC KINH

  1. Xin Báo Tồ Quốc điều chỉnh lại, tác giả bài này là Bùi Anh Trinh chứ không phải Trọng Đạt, đây là bài dầu tiên (1) của loạt bài tường thuật lại trận Điện Biên Phủ 1954. Cám ơn.

    Like

Góp ý, Thảo luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: