Bài mới trên BÁO TỔ QUỐC

TRẬN ĐIỆN BIÊN PHỦ, ĐÁP SỐ CUỐI CÙNG CỦA TRẬN CHIẾN

Hậu quả chính trị của trận Điện Biên Phủ :

Sau khi Tướng De Castries đầu hàng thì người Pháp mới thấy rõ tầm mức tai hại của sự thua trận tại Điện Biên Phủ.

Trước đây người Pháp có thua trận và bỏ chạy tại Cao Bằng nhưng không có đầu hàng.  Giờ đây thì báo chí Pháp không biết viết gì về nỗi nhục này.  Đàng nào thì người Pháp cũng phải tháo chạy khỏi Việt Nam nhưng quả là tệ hại khi mở đầu cuộc tháo chạy bằng hình ảnh đầu hàng của ông Tướng Pháp.

 Báo chí Pháp quay ra chất vấn các ông tướng.  Đến nông nỗi này thì các ông tướng không còn gì để giấu giếm, họ cho báo chí biết tất cả sự thật về việc các nhà chính trị đã bắt họ đánh trận mà không có quân, vũ khí thiếu hụt, đạn được nhỏ giọt, kinh phí chiến tranh thì chụp giật đầu này, và víu đầu kia.

Sự kiện Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Pháp tại Paris không còn quân để thay thế cho quân Điện Biên Phủ, rồi không còn quân để tăng cường phòng thủ Điện Biên Phủ. Và cũng không còn quân để đánh tháo cho Điện Biên Phủ đã chứng tỏ là khả năng huy động lực lượng của nước Pháp đã cạn kiệt trong khi khả năng huy động của Võ Nguyên Giáp có thể tăng trưởng vô hạn định;  nếu chết hết 60.000 quân và 100.000 dân công tại Điện Biên Phủ thì ông ta còn hằng triệu thanh niên khác đang chờ cầm súng tại các chiến khu ở hậu phương, chỉ tiếc là ông ta không có đủ súng cho chừng đó người.

Không biết trong giai đoạn 1 và 2 có bao nhiêu binh sĩ thương vong trong số 42.000 quân CSVN tại Điện Biên Phủ, nhưng gai đoạn 3 VNG đã bổ sung bằng 25.000 quân, điều này chứng tỏ có ít nhất là 25.000 quân CSVN đã bị loại khỏi vòng chiến.  Trong khi đó quân số đầu tiên của Pháp là 12.500 quân, cọng thêm với 4.000 quân bổ sung trong giai đoạn 1 và 2, sang tới trận cuối thì họ chỉ còn 4.200 quân là còn đủ sức để chiến đấu.

 Làm một bài toán thì thấy ẩn số làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ là nhờ lấy số quân đông làm chiến thuật, tức là chiến thuật biển người của Mao Trạch Đông, phe nào có người còn sống sau cùng là phe chiến thắng.  Cũng với chiến thuật này mà trong trận chiến đánh vào Miền Nam đã có 924.000 chiến binh CSVN bị chết và 300.000 mất tích.  Trong khi phía Quân đội Việt Nam Cọng Hòa có 250.000 chết và Hoa Kỳ có 58.000.  So sánh hai con số này thì rõ ràng bên nào chết nhiều mà cuối cùng vẫn còn quân thì bên đó sẽ chiến thắng.

Các nhà quân sự quốc tế đều ngán ông Mao Trạch Đông với chiến thuật biển người bởi vì dân Trung Quốc quá đông cho nên cần phải giảm bớt phát triển dân số. Ông Mao sẳn sàng thí hằng triệu quân để đạt được một mục tiêu quân sự.  Con số hằng triệu người chết có thể làm cho ông Mao cảm thấy hài lòng bởi vì ông đỡ phải nuôi hằng triệu nhân khẩu.  Nhưng đối với người Việt Nam thì việc mất đi 1 triệu thanh niên khiến cho lực lượng lao động làm ra của cải của dân tộc Việt Nam bị rơi vào khủng hoảng thiếu nhân lực.

 Một chứng minh là trong 2 năm 1986, 1987 tỉnh Thanh Hóa bị đói đến nỗi dân chúng phải túa đi các nơi ăn xin thì Thủ tướng Phạm Hùng phải bay vào các tỉnh Miền Tây Nam Bộ để vận động lương thực cứu đói.  Nhưng tại đây ông đã gặp phải sự từ chối quyết liệt của các ông bí thư tỉnh, nhất là ba tỉnh Đồng Tháp, Long An và Bến Tre.  Ông Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre thảy ra trước mặt Thủ tướng Phạm Hùng một danh sách 600.000 thương binh liệt sĩ mà tỉnh Bến Tre đang phải trách nhiệm cung cấp lương thực và hỏi Thủ tướng có biết cái gánh nặng lâu nay của nhân dân tỉnh Bến Tre hay không ?

Cũng nhờ chuyện đó mà người ta mới biết đến gánh nặng của xã hội đối với hậu quả của chiến tranh Việt Nam.  Lúc Lê Duẩn thảy thanh niên Việt Nam vào chiến trường như người ta thảy củi vào lửa thì ông ta  không hề nghĩ tới gánh nặng của nhân dân về sau.

Điều này khiến cho người ta phải đặt lại vấn đề ai là người chịu trách nhiệm về những cái chết trong chiến tranh?  Không thể đổ lỗi cho Đế quốc Mỹ phải chịu trách nhiệm trong khi Đảng CSVN lại là kẻ phát động chiến tranh và hưởng hết mọi lợi lộc do cuộc chiến thắng mang lại. ( Đất đai, tài sản, địa vị ăn trên ngồi trước, sống ăn chơi hưởng thụ trên kiếp trâu ngựa lầm than của người dân )

Đáp số cuối cùng của trận chiến :

Không trước thì sau người Pháp cũng phải ra khỏi Việt Nam;  quân của họ là quân đánh thuê, thấy vui thì đăng lính, thấy nguy hiểm tới tính mạng thì tháo lui, không có gì bắt buộc họ phải tiến tới.  Chuyện họ phải đối diện với cái chết là chuyện họ không nghĩ tới khi ký giao kèo đăng lính…(!)  Trong khi những người đánh thuê chiến đấu không hết mình thì Chính phủ Pháp phải trả tiền cho đội quân đánh thuê quá nặng.

Rồi đến khi chiến trường Việt Nam nổi tiếng thì không ai chịu đăng lính với cái giá như trước nữa, thậm chí gấp đôi cũng không có.  Không ai dại gì đem tính mạng mình ra đổi lấy đồng tiền lương hằng tháng.  Giả sử sau trận Điện Biên Phủ mà người Pháp có kéo dài thêm được 1 năm nữa thì đội quân viễn chinh cũng không còn ai vì tất cả đều mãn hợp đồng và không ai chịu tái đăng.  Như vậy thì chỉ còn có cách là giao lại cho người Việt Nam.  Nhưng người Việt Nam không dại gì liều chết cho quyền lợi của thực dân Pháp.  Như vậy đằng nào rồi thì người Pháp cũng phải ra đi.

Cũng có rất nhiều người Pháp tiếc mãi cho chủ trương của Tướng Dellatre, họ cho rằng nếu tiến hành ngay công thức “người Việt Nam, tiền Mỹ, Pháp sử dụng” trong vòng hai năm 51- 52 thì quân đội Quốc gia Việt Nam sẽ thay thế ngay quân Pháp và sẽ chiến đấu kiên cường hơn quân đánh thuê của Pháp.

Tuy nhiên đứng vào cương vị của những tướng lãnh Pháp thời đó thì sẽ thấy chuyện này không thi hành được.  Trong khi Staline chuyển cho CSVN mọi thứ vũ khí tối tân nhất đang còn nóng hổi trong các xưởng sản xuất của Nga như là giàn hỏa tiển địa địa 6 nòng 75 ly, giàn cao xạ 4 nòng 37 ly… Ngay cả súng đại bác 105 ly của Hoa Kỳ cũng đã trở thành lỗi thời đối với Trung Cọng cho nên họ đã trao 36 khẩu súng 105 ly của Hoa Kỳ cho CSVN để đánh Điện Biên Phủ, trong khi súng này lại là vũ khí lợi hại bậc nhất của Quân đội VNCH cho tới năm 1975.

Người Nga tận tình chuyển đến Trung Cọng và Việt Nam những vũ khí tối tân như vậy vì cần phải có khách hàng tiêu thụ ngay các vũ khí của họ.  Sau năm 1945 mọi sản xuất của Nga tập trung vào sản xuất vũ khí, họ cần tiêu thụ sản phẩm để giải quyết được công ăn việc làm cho đội quân lao động quốc doanh khổng lồ của họ.

Nếu chiến tranh tại Đại Hàn và Việt Nam thành công thì sẽ quảng cáo cho thị trường vũ khí của Nga đối với các dân tộc đang còn bị kềm hãm trong chế độ thuộc địa, được như vậy thì rồi đây thị trường tiêu thụ vũ khí của Nga sẽ trở thành vô tận.  Trong khi đó người Hoa Kỳ chỉ viện trợ cho quân đội Pháp những thứ vũ khí tồn đọng sau chiến tranh và viện trợ cho quân đội Việt Nam những vũ khí lỗi thời như súng cối 106 ly, tiểu liên Thompson, súng trường Garant M1…, thậm chí cả những vũ khí cũ phế thải sau khi đã được dùng trong chiến tranh Thế chiến.

Trong khi đó Hồ Chí Minh không phải trả lương cho bộ đội của ông ta, chỉ nuôi ăn mà thôi, thậm chí thời gian đầu bộ đội cũng phải tự túc sắm áo quần chứ Hồ Chí Minh không có tiền.  Tuy nhiên gạo nuôi bộ đội của Hồ Chí Minh cũng không phải do tiền trong túi ông ta, cũng không phải do ngân sách nhà nước bởi vì nhà nước ở trên rừng thì lấy đâu ra ngân sách.  Tất cả là do sự kêu gọi đóng góp của nhân dân.

Người dân nộp lúa gạo cho “Việt Minh” thì cũng vui lòng vì để nuôi con, nuôi chồng, nuôi anh, nuôi em, nuôi cháu mình trên núi;  thậm chí Bác và Đảng cũng được hưởng ké khẩu phần trong số lúa gạo đóng góp này; chứ Bác và Đảng cũng không làm gì ra tiền để mua gạo.  Hồi ký của Vũ Thư Hiên còn cho biết thuở đó các chiến sĩ ăn cơm bằng cái gáo dừa và đích thân Nguyễn Lương Bằng phải tổ chức một hệ thống buôn thuốc phiện để lấy tiền nuôi chính phủ và nuôi cán bộ Đảng.

Như vậy, trong khi người Pháp lo kiếm viện trợ để trả lương và nuôi ăn cho một đội quân không thiết tha gì đến chiến đấu thì ông Hồ Chí Minh lại có hằng hà sa số thanh niên trong tay mà không cần phải trả lương, không cần phải nuôi ăn; còn tinh thần chiến đấu của các thanh niên này thì khỏi chê, họ đánh như liều mạng bởi vì trong lòng họ đang sục sôi quyết tâm tiêu diệt kẻ thù đã gây ra bao thảm cảnh cho cá nhân, gia đình ho;  cho làng mạc, quê hương họ.

Họ rất mong được trở lại sống một cuộc sống bình thường trên quê hương, họ không thể nào kéo dài cuộc sống bơ vơ đói khổ trên rừng, trên núi cho tới không biết ngày nào.  Vì vậy họ chỉ có việc thí mạng với quân Pháp để được sống còn.

So sánh tinh thần chiến đấu và phí tổn cho chiến đấu của hai bên rồi làm một bài toán thì sẽ có đáp số cuối cùng của trận chiến. Việc còn lại là vũ khí, ai trao vũ khí cho Hồ Chí Minh thì kẻ đó sẽ được cuộc, còn ai trao vũ khí cho Pháp thì cũng bằng như vô ích, sẽ mất cả chì lẫn chài.  Người Mỹ đã tính sai khi ứng vốn cho người Pháp và kết quả là người Mỹ đã không được lời mà còn mất hết vốn tại Đông Dương, do đó đừng trách người Mỹ là tại sao không tiếp tục quân viện cho quân viễn chinh Pháp.

BÙI ANH TRINH

Quảng cáo/Rao vặt

2 Trackbacks / Pingbacks

  1. TRẬN ĐIỆN BIÊN PHỦ, ĐÁP SỐ CUỐI CÙNG CỦA TRẬN CHIẾN | CHÂU XUÂN NGUYỄN
  2. TRẬN ĐIỆN BIÊN PHỦ, ĐÁP SỐ CUỐI CÙNG CỦA TRẬN CHIẾN – Vượt Tường Lửa

Góp ý, Thảo luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: