Bài mới trên BÁO TỔ QUỐC

TRẬN ĐIỆN BIÊN PHỦ, TIỂU ĐOÀN 5 DÙ VIỆT NAM

Tiểu đoàn 5 Dù Việt Nam :

Hồi ký của các vị sĩ quan chỉ huy Cứ điểm Điện Biên Phủ đều nhắc lại cảm nghĩ thất vọng của các ông khi nghe Hà Nội báo tin Tiểu đoàn Dù đầu tiên tăng viện cho Điện Biên Phủ là một Tiểu đoàn Việt Nam, có người đã kêu “trời” và người ta hỏi thăm nhau về người chỉ huy của Tiểu đoàn đó.

Nhưng trải qua suốt cuộc chiến Điện Biên Phủ thì các sĩ quan Pháp bắt buộc phải thay đổi quan niệm.  Thành tích chiến đấu của Đại đội 1/ Tiểu đoàn 5 Dù Việt Nam tử thủ Huguette 7 trong đợt tổng tấn công;  rồi tử thủ Huguette 6 và Huguet 4 trong ngày cuối cùng.  Rồi thành tích của Đại đội 3 do Phạm Văn Phú chỉ huy đã chứng minh rằng binh sĩ Việt Nam chiến đấu hay nhất và cảm động nhất so với các sắc quân hiện diện tại trận địa.  Sau trận tái chiến Eliance 1 Trung Úy Phạm Văn Phú đã được đặc cách vinh thăng đại úy mặc dầu ông mới lên trung úy có vài tháng.

Ngoài 2 đại đội của Trung úy Phú và Đại úy Bizard.  Hai đại đội còn lại của Tiểu đoàn 5 Dù Việt Nam đã bị tước khí giới và đưa đi làm lao công chiến trường từ ngày 2-4 vì tất cả các sĩ quan Việt chỉ huy 2 đại đội này từ chối chiến đấu.  Đại úy Tiểu đoàn trưởng Botella cố thuyết phục nhưng không được, bèn trình lại cho Trung tá Langlais và Đại tá De Castries.  Sau khi điều đình với các sĩ quan không thành công, Bộ chỉ huy quyết định thu hồi vũ khí của cả 2 đại đội và binh sĩ 2 đại đội này chấp nhận nhiệm vụ lao công chiến trường.

Các sĩ quan Pháp không tìm thấy một điều gì khác nhau trong 4 đại đội, tất cả đều có một mẫu số chung là người Việt Nam. Vậy thì chuyện gì đã xảy ra cho 2 đại đội từ chối chiến đấu?  Cho tới nay câu hỏi này chưa được giải đáp.

Tuy nhiên một giả thuyết đã được đặt ra là các vị sĩ quan chỉ huy 2 đại đội này đã bất mãn cách đối xử của Langlais và Botella.  Ngay ngày đầu tiên khi Tiểu đoàn 5/ Dù VN nhảy xuống Điện Biên Phủ lúc 4 giờ 30 chiều giữa lằn đạn của Việt Minh rồi phải đào hố chiến đấu ngay giữa các vòng rào đầy bùng nhùng dây kẽm gai.

Đến 7 giờ 30 thì bị tràn ngập bởi pháo của CSVN khiến 2 khẩu súng cối 81 của Tiểu đoàn bị hư hại. Vậy mà mờ sáng hôm sau Langlais lại chỉ thị cho tiểu đoàn đang vướng rải rác giữa đám bùng nhùng ở bên kia sông Nậm Rốn phải tập trung lại để kéo nhau trong đêm chạy cho hết bề ngang của căn cứ Điện Biên Phủ rồi chạy thêm một nửa chiều dọc của căn cứ để tiếp ứng cho tiền đồn Gabrielle trong khi tại Trung tâm Điện Biên Phủ đang có 2 tiểu đoàn Dù thiện chiến của Pháp là Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 8 lại nằm chơi không.

Rồi tới khi đoàn quân bị chặn lại tại Bến lội vì bị phục kích thì Langlais đã hết lời nguyền rủa các cấp chỉ huy của TĐ 5/Dù VN. Và sau đó thì Langlais trừng phạt bằng cách cách chức đại đội trưởng của Trung úy Ty và đưa một số quân nhân ra lao công chiến trường.  Sau đó lại xé lẻ tiểu đoàn để đi tăng cường cho các đơn vị khác.

Nhưng cho đến khi Tiểu đoàn 2 và Tiểu đoàn 3 Thái bỏ trốn, và sau trận đánh Huguette 7 cũng như Eliance 1 thì cả Bộ chỉ huy Cứ điểm phải đánh giá lại khả năng và tinh thần chiến đấu của các đơn vị quân đội Việt Nam.  Nhưng đến khi họ biết tôn trọng các quân nhân Việt Nam thì đã quá muộn bởi vì họ đã đối xử tàn tệ với đơn vị Việt Nam duy nhất tại Căn cứ , họ đã sử dụng tiểu đoàn như một đứa con ghẻ.  Dĩ nhiên các sĩ quan Việt Nam không thể chịu đựng nổi sự bất công này. Và hành động chấp nhận lao công chiến trường là một hình thức phản kháng cuối cùng.

Langlais là Liên đoàn trưởng của Liên đoàn 2 Nhảy dù Pháp, ông tin tưởng vào các Tiểu đoàn Dù của ông vì cho rằng đó là những quân nhân Lê Dương rất liều lĩnh và cam đảm.  Trong khi đó ông luôn luôn có thành kiến không tốt về các quân nhân Việt Nam.

Nhưng ông không có hân hạnh nhìn vào danh sách các tiểu đoàn này để thấy rằng Tiểu đoàn 6 Dù Thuộc địa của Bigeard có 613 người nhưng có 332 người là Việt Nam.  Tiểu đoàn 2/1 Dù của Bréchignac có 827 người nhưng có 420 người Việt Nam.  Tiểu đoàn 1 Dù Thuộc địa của Jean Souquet có 911 người nhưng có 413 người Việt.  Tiểu đoàn 1 Dù Lê Dương có 653 người nhưng có 336 người Việt. ( Tài liệu của  Bernard Fall ).

Đa số những người tình nguyện vào binh chủng Dù của Pháp là con em của những nạn nhân bị đấu tố trong chiến dịch thu thuế kiểu Cọng sản năm 1950 và chiến dịch Cải cách ruộng đất của Hồ Chí Minh năm 1953.  Họ muốn trả thù cho thân nhân của họ, tinh thần chiến đấu của họ thì khỏi chê.

Dầu sao qua những cuộc thử thách đẫm máu tại Điện Biên Phủ cũng đã khiến Langlais phải có một cái nhìn khác về tinh thần chiến đấu của các quân nhân Việt Nam.  Lúc hai đại đội của Tiểu đoàn 5 Dù từ chối chiến đấu là lúc ông ta đã hiểu ra những sơ sót bất công của ông ta.  Ông cố gắng thuyết phục các sĩ quan của hai đại đội tiếp tục chiến đấu nhưng lúc đó ly nước đã tràn.

Đại úy Phạm Văn Phú

Phạm Văn Phú nhập học khóa 8 Võ bị Quốc gia Việt Nam ngày 1-7-1952, lúc đó ông 29 tuổi và đang là Chuẩn úy của quân đội Quốc gia xuất thân từ binh chủng nhảy dù Pháp.  Tính tình ít nói và nói không hay, vẻ hiền lành chất phác chứ không có vẻ gì là một tay yên hùng, một hạ sĩ quan cao cấp của binh chủng nhảy dù.

Nếu nói theo quan điểm của CSVN thì Phạm Văn Phú thuộc thành phần có “xuất thân tốt”, không phải trí thức mà cũng không phải tư sản.  Cùng theo học với Phạm Văn Phú lại có một người đã mang cấp bậc Thiếu úy là ông Nguyễn Bá Thìn tự Long.  Ông này trước kia là một tiểu đoàn trưởng của Việt Minh, không hiểu ông ta gia nhập quân đội Quốc gia hồi nào và lên Thiếu úy ngày nào nhưng cuối khóa học ông tốt nghiệp thủ khoa khóa 8 Võ bị Quốc gia.

Ngày 28-6-1953 có 163 ông thiếu úy ra trường, trong đó có Thiếu úy Thìn và Thiếu úy Phú.  Tới ngày 20-11-1953 Thiếu úy Phú cùng với Tiểu đoàn 5 Dù VN nhảy xuống Điện Biên Phủ lần thứ nhất để chiếm đóng và thiết lập căn cứ.  Sau đó 1 tháng, tháng 12 năm 1953 ông được thăng cấp Trung úy trong trận giải cứu Tiểu đoàn 8 Dù của Pháp bị tấn công tại Mường Pồn khi tiểu đoàn này đang cố gắng cứu các đơn vị Biệt kích rút khỏi Lai Châu.

Đầu năm 1954 Tiểu đoàn 5 Dù VN cùng với Tiểu đoàn 6 Dù Thuộc địa rời Điện Biên Phủ để ứng chiến cho mặt trận Luangbrabang đang bị Đại đoàn 308 của CSVN uy hiếp.  Đến tháng 3 năm 1954 Trung úy Phạm Văn Phú trở lại Điện Biên Phủ với chức vụ Đại dội trưởng Đại đội 3/ TĐ 5/ Dù Việt Nam.

Và một tháng sau, tháng 4-54 ông mang lon đại úy.  Cuộc đời binh nghiệp của ông sau này có nhiều thăng trầm nhưng các sĩ quan Pháp vẫn nhắc tới ông mỗi khi nói về Điện Biên Phủ hoặc nhắc tới Điện Biên Phủ mỗi khi nói về ông.

Đặc biệt sau này Tướng Phú cũng luôn luôn lên lon đặc cách tại mặt trận, từ Đại úy lên đến Thiếu tướng.  Lần thăng cấp sau cùng là chiến công trong trận Hạ Lào.  Ông đã đưa Sư đoàn 1 Bộ binh tấn công chiếm Tchepone rồi trở về mà chỉ bị tổn thất 1 tiểu đoàn.

Đáng tiếc là sau năm 1975 ông bị những kẻ tiểu nhân dèm pha sau khi ông đã chọn cái chết để đền nợ nước.  Một trong những nguyên nhân để dèm pha là do ông đã bị bắt làm tù binh tại Điện Biên Phủ (sic).  Hãy nghe Đại tá Lê Khắc Lý nói xấu về ông :

“Tướng Phú thường hay ở Nha Trang. Nhiều người bảo ông ấy sợ. Tôi nghĩ có lẽ đúng. Ông đã từng bị bắt làm tù binh trong trận Ðiện Biên Phủ năm 1954, cho nên cứ nghĩ đến việt cộng là ông ấy đủ sợ rồi. Tôi không có lòng tin nơi Tướng Phú mỗi khi chúng tôi đụng trận.

Ông quyết định không rời Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn II về Nha Trang nữa, nhưng cá nhân ông đã chuyển một số lớn của cải và gia đình đi Nha Trang và hầu hết các Nhân Viên cũng đi theo với ông. Tôi là người phải điều động mọi việc ở Pleiku. Ðây là sự thật, tôi không hề có ý khoe khoang. ( Larry Engelmann, Tears befor The Rain, bản dịch của Nguyễn Bá Trạc ).

Gia đình Tướng Phú sống tại biệt thự Sóng Nhạc tại Nha Trang ( Tư dinh dành cho Tư lệnh Quân khu 2 ) cho nên chuyện ông ta chuyển gia đình và của cải từ Pleiku về Nha Trang là chuyện không có. Vả lại “một số lớn của cải” nghĩa là sao ? Đây là Lý tiết lộ cho tác giả người Mỹ, người Mỹ dễ bị hiểu lầm rằng hai chữ “của cải” là do tham nhũng (sic).

Dĩ nhiên là Lý không có thù oán gì với ông tướng nhưng thực ra Lý nói xấu ông tướng để che giấu tội lỗi của ông ta.  Lý buộc tội Tướng Phú hèn nhát cốt để chứng minh rằng ông ta là người duy nhất “điều động mọi việc ở Pleiku”. Trong khi sự thực thì Lý đã trốn khỏi Pleiku ngày 16-3 sau khi Tướng Phú rời Pleiku ngày 15-3 để chỉ huy mặt trận Quốc lộ 21. Toàn bộ Quân đoàn II bị loạn do sự bỏ trốn của Lê Khắc Lý.

Lý phê phán rằng Tướng Phú sợ bị Việt Cộng bắt và không tin tưởng Tướng Phú mỗi khi ông tướng đụng trận (?!).  Trong khi bản thân Lý tuy mang danh là Đại tá Tham mưu trưởng Quân đoàn nhưng cả đời chưa bao giờ ra trận.  Giờ đây ông ta cho rằng Tướng Phú đã trốn khỏi  Pleiku từ ngày 15-3, bỏ mặc Bộ tham mưu Quân đoàn cho một mình ông ta điều động (sic). Trong khi sự thực ông xếp của Lý là Tướng Trần Văn Cẩm vẫn điều động chỉ huy đoàn di tản từ đầu đến cuối, cho dù Lý đã bỏ trốn ngay trong ngày đầu tiên.

Còn Tướng Phú là một tư lệnh Quân đoàn, dưới tay của ông có tới 2 sư đoàn Không quân thì không lẽ ông không có một chiếc máy bay nào để chạy thoát khỏi Pleiku hay sao ? Việc gì ông phải sợ bị bắt;  việc gì ông phải trốn ở Nha Trang ?  Rõ ràng là Lê KhắcLý dùng vong linh của Tướng Phú để che giấu tội phản quốc của ông ta.

Giờ đây để bôi tro trát trấu lên vong linh Tướng Phú, Lý cho rằng tướng Phú sợ bị bắt;  trong khi Tướng Phú đã nổi danh anh hùng chỉ 6 tháng sau khi ra trường khi ông chỉ huy giải cứu Tiểu đoàn 8 Nhảy dù Pháp tại Mường Bồn, được thăng cấp Trung úy.  Bốn tháng sau đó ông lại được vinh dự thăng cấp Đại úy trong trận tử chiến tại Điện Biên Phủ.  Và ông trở thành ông tướng duy nhất của quân đội VNCH được thăng cấp tại mặt trận cho mỗi cấp, từ thiếu úy lên thiếu tướng.

Qua lời chứng của một Đại tá Tham mưu trưởng Quân đoàn, vị tướng anh hùng nhất của quân đội VNCH đã bị biến thành một kẻ hèn nhát sợ bị bắt (?!)… Nhưng Lý nói mà quên nhìn trước nhìn sau, ( Trời sinh kẻ gian thường không được mấy khôn ngoan ), hành động tự sát của Tướng Phú thừa sức chứng minh ông ta có phải là người hèn nhát hay không.  Một khi Tướng Phú đã được chứng minh là một anh hùng thì những lời chứng gian của Lê Khắc Lý đã tự tố cáo hành vi phản bội tổ quốc, lừa thầy phản bạn của ông ta.

BÙI ANH TRINH

Quảng cáo/Rao vặt

8 Comments on TRẬN ĐIỆN BIÊN PHỦ, TIỂU ĐOÀN 5 DÙ VIỆT NAM

  1. Ông Hoa người cọng sản giỏi ở điểm là ác và xảo trá, người quốc gia thua là điểm đó. Tại sao giỏi mà Dân lại bỏ nước theo đế quốc Luôn cả cán bộ củng bỏ đảng chạy theo. Còn tử tế hả ông chứng minh tử tế của cs Vn. Lươn lẹo , xảo trá. Chui cổng hậu khg dám chuồng mặt gặp Việt kiều Làm trò cười cho đế quốc ông xem mấy tên lảnh đạo ra nước ngoài làm trò cười thiên hạ nổi nhục nào hơn. Thắng mà vác bị ăn xin Đế quốc , coi Dân như cỏ rác. Tử tế chổ nào Ông Hoa. Thời đẩ thế thế thời phải thế chẳng qua các ông Thắng là ví các ông quá ác và xảo tra 2 hiệp đinh ngưng bắn các ông coi như giấy chui đít. Chẳng ai tranh đua với các ông. Hèn với giặc ác với Dân Tử tế chổ nào ?

    Like

  2. Anh Trinh như vậy lính nhảy dù Vn trong Tiểu đoàn 5 nhảy dù họ chiến đấu cho Mẩu quốc pháp, và người họ đường đầu là người cùng nòi giống Vn có vẻ đau thương quá. Bắt đầu cho một cuộc anh em giết nhau sau đó. Pháp ra đi Mỹ nhảy vào , cuộc chiến tiếp tục Cho đến năm 1975 và cs Vn đem nướng thanh niên Việt cho nghĩa vụ quốc tế o Campuchia cho đến năm 1982. Như vậy quân lực Vnch được thai nghén bởi Quân đọi pháp. Sư đoàn Dù Vn được thành lập qua Tiểu đoàn 5 dù , theo tôi khg lầm tiểu đoàn 5 nhảy dù là nồng cốt của Sư đoàn Dù sau nầy, khi tôi cải tạo trong tù Tụi quản giáo vc nói với chúng tôi các anh khg có chính nghĩa các anh thua là vì TT các Anh là tên Chàm chế bồng Thiệu và TT mưu trường là tên Nùng Cao văn Viên , lời nói đùa của tên Quản giáo là lam chúng tôi suy nghĩ , và mình thua thật nhục nhả khi ông Tổng tư lệnh và ông TT tham mưu chạy mất dép thì ra là vậy ./

    Like

    • Anh Vinh,
      Năm 1946 Pháp đuổi ông Hồ Chí Minh chạy lên rừng Việt Bắc và lập chiến khu tại vùng Tuyên Quang. Nước Việt Nam Vô chính phủ cho đến năm 1949. Nhưng cũng từ năm 1946 đến 1949 thì thế giới phân cực, Nga và Mỹ chia tay, trở thành địch thủ của nhau. Nga tuồn vũ khí cho quân đội Cọng sản của Mao Trạch Đông để đánh chiếm nước Trung Hoa do Tưởng Giới Thạch lãnh đạo.
      Năm 1949. Hồi ký của Võ Nguyên Giáp :
      “Với sự thúc ép của Mỹ, hai tháng sau, ngày 3 tháng 8 năm 1949, Hiệp ước Êlydê (Elysée) giữa Tổng thống Pháp Vanhxăng Oâriôn (Vincent Auriol), Bộ trưởng Bộ Pháp quốc Hải ngoại Cốt Phơlôrê (Cost Floret) và Bảo Đại mới ra đời.
      “Pháp công nhận Việt Nam Độc lập, có một quân đội 50,000 người, với những sĩ quan người Việt nhưng do người Pháp huấn luyện và điều khiển…” (Võ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biên Phủ, in lần 2, trang 124).
      Như vậy là nước Việt Nam độc lập từ năm 1949 chứ không phải là từ năm 1954 như CSVN dạy cho anh em mình ở trong tù. Đây là tài liệu viết cho các em trong nước cho nên tôi dẫn chứng bằng sách của VNG để cho các em dễ tin và dễ tìm. Một dấu hiệu ít ai để ý trong đoạn hồi ký trên, đó là Việt Nam được độc lập do áp lực của Mỹ. Và quân đội Quốc gia được thành lập theo tinh thần Hiệp ước này.
      Cuối năm 1949 Mao Trạch Đông chiếm được toàn nước Trung Hoa, đổi tên thành nước Trung Quốc. Tưởng Giới Thạch chạy ra Đài Loan.
      Hồi ký của Võ Nguyên Giáp kể lại vào tháng Giêng năm 1950 :
      “Trong một buổi làm việc ở Mátxcơva cùng với Xtalin, có cả Mao Trạch Đông, Bác đề nghị Liên Xô giúp trang bị cho 10 đại đoàn bộ binh và 1 trung đoàn pháo cao xạ. Xtalin nói : “Yêu cầu của Việt Nam không lớn. Nên có sự phân công giữa Trung Quốc và Liên Xô…Trung Quốc sẽ giúp Việt Nam những thứ đang cần…” Mao Trạch Đông nói : “Việt Nam đang cần trang bị 10 đại đoàn để đánh thắng Pháp, trước mắt hãy trang bị cho 6 đại đoàn có mặt ở Miền Bắc. Việt Nam có thể đưa ngay một số đơn vị sang nhận vũ khí trên đất Trung Quốc. Tỉnh Quảng Tây sẽ là hậu phương trực tiếp của Việt Nam”…
      “Ngay sau khi Bác trở về nước cuối tháng 3 năm 1950, các bạn Trung Quốc đã nhanh chóng thực hiện lời cam kết” ( Đường tới Điện Biên Phủ, in lần 2, trang 14 và 15)… “Cho tới hết năm 1950, ta đã tiếp nhận của Trung Quốc 1.200 tấn vũ khí, đạn dược, 180 tấn quân trang quân dụng, 2.634 tấn gạo, 20 tấn thuốc và dụng cụ quân y, 800 tấn hàng quân giới, 30 ô tô, 120 tấn xăng dầu và phụ tùng ô tô”(Trang 109).
      Như vậy là quân đội CSVN được thành lập và huấn luyện bởi ngoại bang và chiến đấu cho ý đồ của ngoại bang trước khi quân đội Quốc gia Việt Nam được thành lập.
      Tài liệu sưu tập báo chí của Đoàn Thêm về những sự kiện sau đó :
      Ngày 18-1-1950 Trung Quốc thừa nhận chính phủ Việt Minh, ngày 31-1-1950 Nga thừa nhận chính phủ Việt Minh ( Hồ Chí Minh ).
      Ngày 7-2-1950 Mỹ và Anh thừa nhận chính phủ Quốc Gia, ngày 2-3-1950 Thái Lan thừa nhận chính phủ Quốc Gia ( Bảo Đại là Quốc trưởng kiêm Thủ tướng ). Ngày 6-3 một phái đoàn Mỹ do Griffin cầm đầu đến Sài Gòn để nghiên cứu kế hoạch viện trợ quân sự cho quân đội Pháp và viện trợ kinh tế cho chính phủ Quốc Gia.
      Năm 1950, ngày 25-6, quân Bắc Hàn vượt qua vĩ tuyến 38 xâm lăng Nam Hàn. Ngày 28-6, Thủ đô Séoul của Nam Hàn thất thủ, Chính phủ Lý Thừa Vãn chạy về Pusan ở miền Nam. Ngày 1-7, Tổng thống Hoa Kỳ cho phép Lục quân Hoa Kỳ tham chiến tại Nam Hàn. Ngày 7-7, Hội Đồng Bảo an Liên hiệp Quốc ủy cho Hoa Kỳ cử Tư Lệnh quân đội Liên Hiệp Quốc tại Nam Hàn là Tướng Mac. Arthur.
      Năm 1950, ngày 15-7. Nhằm chống lại sự bành trướng của phe Cọng sản, phái đoàn viện trợ quân sự Hoa Kỳ do Melby và Tướng Erskine cầm đầu sang Việt Nam xem xét tình hình trước khi Hoa Kỳ quyết định hẵn về chương trình viện trợ. Ngày 21-7, phái đoàn viện trợ Hoa Kỳ đến Hà Nội. Ngày 22-7, chuyến máy bay đầu tiên của Hoa Kỳ chở đồ viện trợ tới Sài Gòn. Ngày 11-8 chuyến tàu viện trợ đầu tiên cập bến Sài Gòn .
      Năm 1950, ngày 12-9, quân Hoa Kỳ đổ bộ xuống Inchon Bắc Hàn . Ngày 19-9, quân Hoa Kỳ chiếm lại Séoul. Ngày 28-9, quân Bắc Hàn tại phía Nam vĩ tuyến 18 sợ bị chặn hậu ở Inchon nên dồn dập chạy về Bắc. Ngày 29-9 quân Liên hiệp Quốc vượt qua vĩ tuyến 38 truy kích quân Bắc Hàn.
      Năm 1951, tại Đại Hàn, quân Hoa Kỳ phản công thắng lợi, tiến tới gần Hán Thành. Ngày 19-2, quân Hoa Kỳ tái chiếm Hán Thành. Ngày 22-2, quân Hoa Kỳ đuổi theo quân Bắc Hàn về phía biên giới Bắc Hàn. Ngày 14-3, quân Hoa Kỳ tiến tới gần vĩ tuyến 38.
      Năm 1951, ngày 21-9-1951, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tuyên bố Chính phủ Hoa Kỳ đồng quan điểm với Pháp về công cuộc chống Cộng tại Đông Dương và sẽ xúc tiến viện trợ. Ngày 16-10, 15.000 thanh niên nhận được giấy gọi nhập ngũ. 1.000 thanh niên có bằng Trung học trở lên được gọi nhập ngũ trường sĩ quan trừ bị Nam Định và Thủ Đức. Ngày 8-11, hai trại tân binh được thiết lập tại Bắc Ninh và Quảng Yên, mỗi trại chứa được 3.000 khóa sinh. Cuối năm, quân số của Quân đội Quốc gia là 110.000 với các binh chủng chuyên môn như Truyền Tin, Pháo Binh, Nhảy Dù, Quân Cụ, Quân Y và Hiến Binh.
      Năm 1951, tháng 11, tại Sài Gòn, Dân biểu John F. Kenedy của Hoa Kỳ chất vấn Đại sứ Hoa Kỳ tại Đông Dương: “Tại sao người Việt Nam lại phải chiến đấu bên cạnh người Pháp để rồi Pháp giữ đất nước của họ như một thuộc địa? Tại sao chúng ta lại hùa theo người Pháp, một quốc gia đang cố gắng nắm giữ tàn tích thực dân tại Đông Dương?”. Cao ủy Pháp là Delattre đã phản đối gay gắt thái độ của Dân biểu Kennedy ( Arthur Schlesinger, A Thousand Days, trang 320 ).
      Anh Vinh,
      Tôi đã chuyển đến anh tình cảnh của quân đội VNCH từ năm 1951. Năm đó Mỹ sợ Việt Nam cũng rơi vào tay Mao Trạch Đông như Bắc Hàn cho bên họ vội be bờ ngăn chặn. Nhưng thuở đó Pháp có sẵn 75 ngàn quân thiện chiến tại VN cho nên Mỹ chủ trương quân Pháp ngăn chặn quân Việt Minh đang do Mao Trạch Đông điều khiển, còn quân đội Quốc Gia ( VNCH ) thì canh giữ các đồn bót, cầu cống và cơ sở công quyền.
      Tiểu đoàn 1 nhảy dù VN được thành lập năm 1950 do Đại úy Nguyễn Văn Vỹ chỉ huy. Đến cuối năm 1952 mới thành lập thêm Tiểu đoàn 3 và Tiểu đoàn 5. Tiểu đoàn 5 do 3 đại úy Pháp tạm làm Tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn phó, tham mưu trưởng để dần dần thay thế bằng người Việt. Đại đội trưởng đại đội 1 cũng người Pháp và 3 đại đội còn lại người Việt.
      Nguyên 1 tiểu đoàn VN tham chiến bên cạnh quân đội Pháp là trận này. Và cũng là trận duy nhất, cho nên mới có chuyện 2 đại đội từ chối chiến đấu để làm lao công chiến trường.
      Tình cảnh của Tiểu đoàn 5 nhả dù vào thời đó là như thế, không biết anh nghĩ sao chứ tôi thì cũng thấy không khác tình cảnh của anh em mình thời chiến dấu bên cạnh Mỹ. Lúc đó độc lập thì đã độc lập rồi, nhưng vẫn còn lệ thuộc vào viện trợ quân sự chứ chưa tự chủ được.
      Còn những tâm sự ngậm ngùi của anh giữa chống cộng và quyền tự chủ thì ông Kennedy lúc đó mới 24 tuổi cũng đã thấy ngay rồi.
      Bùi Anh Trinh

      Like

    • Anh Trinh thật ra tôi có cuốn sách qlvnch trong giai đoạn hình thành năm 1946 1955 do phòng 5 bộ TTM ấn hành năm 1972, quân độ Miền nam thừa hưởng từ nhân sự đến trang bị để lại từ pháp khg tránh được chiến tranh đường đầu với khối cs bắt đầu , có sự sắp xếp nào đó để tiêu dùng hết số vu khí còn đọng lại sau thế Chiến thứ 2 họ dùng Vn và Dân tộc Vn để gánh chịu số thặng dư nầy. Tôi có đọc một loạt bài rất dài trên cánh thép của không Quân anh nào viết tôi quên tên nhưng ngẫm ra củng có lý. Tại sao tụi CIA Mỹ lại thả dù vu khí cho đám mặt Trận Giải phóng miền nam ? Suy ngẫm lại từ đầu đến cuối tôi thấy ông ấy viết rất đúng khi Mỹ thay đổi màu da trên xác chết và trang bị cho Vnch M 16 là chấm dứt vụ bỏ 2 quân đoàn. Và các tướng lảnh miền nam tháo chạy. Trại tỵ nạn dựng ở đảo Gủam trước ngày đứt phim và bản văn đuổi Mỹ ,ông DVM nắm quyền đài BBC Loan báo ông Minh lên để bàn giao cho Vc tất cả là một bài bản thật tài tình của người Mỹ. Tôi rất ngạc nhiên chúng ta chỉ tự vệ lúc Vc đánh một canh bạc cuối do Mỹ bật đèn xanh. Là trân Phước long. Ông Thiêu lẻ ra chơi cạn Tàu dùng quân đoàn 1 và 2 tấn công ra Bắc Tại sao lại rút , đêm đêm nằm trong tù chúng tôi nói chuyện với nhau ông Tổng tư lệnh mà chơi theo kều bạt mạng chắc mình bây giờ khg nằm o trong tù Cùng tất biến. Biến tất Thông.nhưng Tổng tư lệnh chạy làng để ông Minh gánh nạn mấy ông chạy trước hàng quan chửi tại sao khg tử chiến .chúng ta có Miền nam có một đọi quân hùng mạnh Nhưng chúng ta thiếu cấp lảnh đạo giỏi, người cộng sản hơn ta chổ nào?họn hơn là vì họ quá ác họ bắn vào dân khg thương tiếc lòng Nhân từ Quân tử làm chúng ta thua lủ dot nát lên cầm quyền có gì mà Huêng hoang như ông Hoa Nguyễn. Nhìn lại Đất nước hôm nay. Tệ nạn , tham nhủng, lạm quyền hiệu trưởng mua Dâm học sinh, Tiến sỉ đào tạo 24 giờ, cấp lảnh đạo ra nước. Ngoài làm trò cười. 500 triệu Dollars mua cả một tập đoàn cái trị Tiền có đến tay Dân hay khg? Moi trường bị tàn phá , ai lên tiếng thì bị cho là chông Tổ quốc Ngày khg xa Tàu sẻ thôn tính xong Vn Cs có gì mà dạy anh em mình Tụi nó quăng giấy bút ra bảo anh em mình tố ông Thiệu bán nước và đế quốc Mỹ xâm lược. Rồi tự khai đẻ khoan hồng , mình tố lấy mình người cs khg bao giờ thay đổi.họ đổi màu như con các kè theo từng giai đoạn đám Điếu cày <sư đoàn 3 sao vàng> cù Hà huy vủ Tạ phong Tần. Người Việt quốc gia Quá tin Con ca sỉ Thu phương nó có bao giờ bỏ đảng và Bác của nó đâu phải khg anh Trinh thật buồn cho nước non

      Like

  3. Cám ơn ông Bùi anh Trinh đă cho góp trên diễn đàn. Xin trả lời ông trong hai phần sau đây.

    1- Bởi những bài viết của ông có trích dẫn tài liệu của Bernard Fall cho nên tôi cũng khẳng định với ông là lính dù VN ở DBP đă hát quốc ca của thực dân Pháp. Không một dân tộc lớn nào trên thế giới có thể chấp nhận được chuyện công dân của họ chiến đấu bên cạnh và hát quốc ca của kẻ đã đầy ải quê hương, dân tộc mình.

    Trích từ “Hell In A Very Small Valley” trang 235, chương Asphyxiation của Bernard Fall:
    “As the Vietnamese paratroopers in turn emerged on the fire-beaten saddle between the hills there suddenly arose, for the first and last time in the Indochina War, the Marseillaise. It was sung the way it had been written to bè sung in the days of the French Revolution, as the battle hymn of the French Republic. It was sung that night on the blood-stained slopes of Hill Eliane 1 by Vietnamese fighting other Vietnamese in the last battle France fought as an Asian power.”

    2- Nếu như tôi bảo với ông rằng tôi đã gặp những người lính dù VN chiến đấu cạnh quân Pháp ở DBP xuất xứ từ những đội tự vệ của Bùi Chu, Phát Diệm thì có lẽ ông cũng không tin, cho nên tôi chỉ có thể trích từ bài”Trận chiến cuối cùng” của Bảo Định Nguyễn hữu Chế.

    “Buổi chiều ngày 19 tháng Ba, đơn vị về đến cầu sông La Ngà, được trực thăng tiếp tế lương thực và đạn dược. Trực thăng bốc đi những thương binh. Linh mục cai quản họ đạo sở tại đến thăm. Cha tự giới thiệu là cựu Trung úy Quân đội Quốc gia, từng tham dự trận Điện Biên Phủ, cha tâm sự”

    Sau cùng xin được nhắn với ông là muốn đánh bại người cộng sản thì mình phải tử tế, giỏi giang hơn họ. Nếu không thì chỉ làm tang thương cho tổ quốc chứ chẳng nên tích sự gì.

    Like

    • Thưa ông Hoa Nguyễn
      (1) Năm 1967 Bernard Fall viết quyển “The Siege of Dien Bien Phu- Hell in a Very Small Place”. Khi viết sách Bernard Fall đã có phỏng vấn Tướng Marcel Begeard của Pháp, nguyên Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 Nhảy dù Pháp tại Điện Biên Phủ. Tướng Begeard cho biết khi ông chỉ huy lực lượng Pháp-Việt tái chiếm đồn Eliance 1 thì tất cả vừa xung phong vừa hát bài ca quân hành của Pháp. Benard Fall có hỏi lại rằng binh sĩ Việt cũng hát tiếng Pháp hay sao? Tướng Begeard đáp có lẽ họ hát bài quốc ca Pháp, tức là bài Marseillaise mà học sinh Việt cũng được dạy để hát trong các buổi chào cờ thực dân Pháp.
      Do đó khi viết sách Bernard Fall đã viết với ý của Begeard như sau :
      “Vào năm 1954, quân đội Việt Nam còn non trẻ, nó chưa có cờ và quốc ca riêng. Cho tới lúc này chưa ai kịp đem tới cho nó một khúc quân hành để thôi thúc binh lính cất cao giọng hát, dù chỉ là để quên nổi sợ của mình đi. Tuy nhiên có một bài hát mà tất cả học sinh Việt Nam đều đã được học, đó là bản quốc ca Pháp Marseillaise”.
      Và vào lúc quân dù Việt Nam lao qua giải ngăn cách giữa hai ngọn đồi, chính là bài Marseillaise đã vang lên, lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng trong chiến tranh Đông Dương. Họ hát nó như một bài ca chiến trận, mà nó quả đúng là bài ca chiến trận của cách mạng Pháp.
      Và những người hát nó đêm đó trên những sườn đối máu me của Ailance 1 là những người Việt Nam chống lại những người Việt Nam khác trong trận chiến cuối cùng của nước Pháp tiến hành dưới danh nghĩa một cường quốc Á Châu. ( Bản dịch của Vũ Trấn Thủ, nhà xuất bản Công an Nhân dân, trang 472 ).
      Đọc qua đoạn trên đây của Benard Fall do Vũ Trấn Thủ dịch chắc ông Hoa cũng thấy rằng người dịch đã dịch đúng nguyên bản của Benard Fall. Đoạn trên đây có ba đoạn nhưng khi trả lời cho ông thì tôi chỉ trích dẫn đoạn đầu mà không dẫn thêm đoạn 2 và đoạn 3 ( Đoạn 2 và 3 là đoạn ông Hoa đã trích từ nguyên bản ).
      Sở dĩ tôi chỉ trích đoạn đầu bởi vì nó đủ chứng tỏ rằng chuyện người Việt Nam mà hát tiếng Pháp là vô lý bởi vì người lính Việt đăng ký lính hợp đồng với Pháp thì đa số không được đi học ABC chứ đừng nói là học tiếng Pháp, chỉ có hàng Hạ sĩ quan hay Sĩ quan thì may ra. Chính vì thấy vô lý cho nên Bernard Fall mới chống chế theo Begeard rằng có lẽ đó là bài quốc ca Pháp. ( Bài Marseilaise ).
      Nhưng bài quốc ca Pháp chỉ có học sinh mới được học chứ người lính thất học thì không biết. Đọc qua cách giải thích của Bernard Fall tôi thấy nó rất gượng ép. Vả lại tôi là người lăn lộn ngoài chiến trường cho nên tôi không tin có chuyện vừa hô xung phong vừa hát (!). Tâm lý lúc đó rất hoảng loạn giữa tên bay đạn nổ không ai có lòng dạ nào đâu mà hát.
      Vì vậy tôi không tin chuyện hát là có thật, tôi nghĩ chẳng qua là ông Begard hứng chí thêm mắm thêm muối khi kể với Bernard Fall mà thôi. Rồi Bernad Fall cũng không nỡ bỏ qua một pha hào hùng lãng mạn của trận chiến nên mới giữ nguyên chi tiết đó trong sách của mình. Nhưng khi viết lên thì có lẽ chính tác giả cũng thấy chuyện lính Việt hát tiếng Pháp là không ổn cho nên lời giải thích rất gượng ép.
      (2) Về bài viết “Trận chiến cuối cùng” của Bảo Định Nguyễn Hữu Chế : “Buổi chiều ngày 19 tháng Ba ( 1975), đơn vị về đến cầu sông La Ngà, được trực thăng tiếp tế lương thực và đạn dược. Trực thăng bốc đi những thương binh. Linh mục cai quản họ đạo sở tại đến thăm. Cha tự giới thiệu là cựu Trung úy Quân đội Quốc gia, từng tham dự trận Điện Biên Phủ, cha tâm sự:
      “Chiều hôm kia thấy tiểu đoàn con di chuyển lên Định Quán là cha thấy không xong rồi. Lối một tuần lễ trước đây, cha bị họ đưa vào rừng cho coi một cuộc biểu dương lực lượng. Cha thấy chúng có nhiều quân, nhiều đại pháo, và lối 10 chiếc xe tăng”.
      Đoạn văn trên đây không dính dáng gì đến Bùi Chu, Phát Diệm. Và ông linh mục trên đây cũng không dính dáng gì đến Bùi Chu, Pháp Diệm trong khi ở bài góp ý trước ông Hoa đã viết : “Có thể là những người lính dù VN, phần đông là từ các xóm đạo Bùi Chu, Phát Diệm”.
      Theo tôi hiểu thì ông Hoa nói “có thể” thì có nghĩa là “chưa chắc chắn”. Ngoài ra ông nói “phần đông” thì có nghĩa là hầu hết. Nhưng theo tôi biết thì phần đông con em của giáo xứ Bùi Chu, Phát Diệm tham gia 2 Tiểu đoàn tự vệ của Đức cha Từ chứ phần đông không đi lính nhảy dù.
      (3) Về lời ông khuyên tôi muốn thắng Cọng sản thì phải tử tế giỏi giang hơn họ. Mặc dầu không đồng ý nhưng tôi cũng xin ghi nhận lời khuyên của ông. Nhưng tôi cũng xin nói là tôi không hề có tham vọng muốn thắng Cọng sản, hay muốn tử tế hơn Cọng sản, hay giỏi giang hơn Cọng sản. Tôi tự biết tôi còn kém xa họ cho nên tôi không hơi sức đâu mà đi tranh hơn tranh thua với họ.
      Xin cảm ơn ông đã góp ý cho bài viết một lần nữa. Bùi Anh Trinh.

      Like

  4. Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 5 dù là thiếu tá Andre Botela là một người rất kỳ thị. Ông ta coi thường các sĩ quan và binh lính Việt Nam phục vụ dưới quyền ông ta.
    Chỉ huy lính dù Pháp ở Điện biên Phủ là Trung tá Langlais. Ông này còn kỳ thị hơn ông Botela một bậc. Lúc đầu bộ chỉ huy Pháp đề nghị đưa tiểu đoàn 1 và 5 dù Việt Nam vào tiếp viện DBP. Langlais đã chối bỏ đề nghị này với lý đó là những tiểu đoàn dù VN, do sĩ quan Pháp chỉ huy nhưng tinh thần chiến đấu kém. Sau cùng ông ta chỉ cho tiểu đoàn 5 dù VN được chiến đấu bên cạnh lính dù Pháp. Có thể là những người lính dù VN, phần đông là từ các xóm đạo Bùi Chu, Phát Diệm có mặc cảm vì đang chiến đầu với thực dân Pháp chống lại quê hương mình. Theo Bernard Fall những người lính dù VN, có cả trung úy Phú đã bị bắt hát quốc ca Pháp, bài “La Maseillaise” khí xung phong cũng như khi chào cờ.

    Like

    • Năm 1967 Bernard Fall viết quyển “The Siege of Dien Bien Phu- Hell in a Very Small Place”. Khi viết sách Bernard Fall đã có phỏng vấn Tướng Marcel Begeard của Pháp, nguyên Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 Nhảy dù Pháp tại Điện Biên Phủ. Tướng Begeard cho biết khi ông chỉ huy lực lượng Pháp-Việt tái chiếm đồn Eliance 1 thì tất cả vừa xung phong vừa hát bài ca quân hành của Pháp. Benard Fall có hỏi lại rằng binh sĩ Việt cũng hát tiếng Pháp hay sao? Tướng Begeard đáp có lẽ họ hát bài quốc ca Pháp, tức là bài Marseillaise mà học sinh Việt cũng được dạy để hát trong các buổi chào cờ thực dân Pháp.
      Do đó khi viết sách Bernard Fall đã viết với ý của Begeard như sau :
      “Vào năm 1954, quân đội Việt Nam còn non trẻ, nó chưa có cờ và quốc ca riêng. Cho tới lúc này chưa ai kịp đem tới cho nó một khúc quân hành để thôi thúc binh lính cất cao giọng hát, dù chỉ là để quên nổi sợ của mình đi. Tuy nhiên có một bài hát mà tất cả học sinh Việt Nam đều đã được học, đó là bản quốc ca Pháp Marseillaise”. ( Bản dịch của Vũ Trấn Thủ, nhà xuất bản Công an Nhân dân, trang 472 ).
      Do đó chưa chắc thực sự quân của Tiểu đoàn 5 Dù VN đã có hát, hoặc chưa chắc là hát bài Marseillaise cho nên người viết không thể đưa chi tiết này vào sách như là một sử liệu.
      Còn chuyện ông Hoa Nguyễn cho rằng : “Có thể là những người lính dù VN, phần đông là từ các xóm đạo Bùi Chu, Phát Diệm có mặc cảm vì đang chiến đấu với thực dân Pháp chống lại quê hương mình” thì cũng chỉ là suy đoán riêng của cá nhân ông. Riêng người viết thì không nghĩ như vậy vì phần đông con em của xứ đạo Bùi Chu, Phát Diệm đều gia nhập 2 tiểu đoàn Tự vệ của giáo xứ Phát Diệm chứ không phải tham gia binh chủng Dù của Pháp.
      Cám ơn ông đã góp ý cho bài viết. Bùi Anh Trinh

      Like

1 Trackback / Pingback

  1. TRẬN ĐIỆN BIÊN PHỦ, TIỂU ĐOÀN 5 DÙ VIỆT NAM | dòng sông cũ

Góp ý, Thảo luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: